phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nƣớc mắm Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nƣớc mắm Nam Ngƣ của Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Ma San tại Thái Nguyên Chƣơng 3: Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nƣớc mắm Nam Ngƣ của Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Ma San tại Thái Nguyên Chƣơng 4: Giải pháp đáp ứng sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nƣớc mắm Nam Ngƣ của Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Ma San tại Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM NƢỚC MẮM 1. Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nƣớc mắm 1. Nước mắm và nhu cầu sử dụng nước mắm của khách hàng 1. Nước mắm và hoạt động của doanh nghiệp trong cung ứng sản phẩm nước mắm Nƣớc mắm Nƣớc mắm là dung dịch đạm mà chủ yếu là các acid amin, đƣợc tạo thành do quá trình thủy phân protein cá nhờ hệ enzym protease có trong cá.
Nƣớc mắm là hỗn hợp muối với các axid amin đƣợc chuyển biến từ protein trong thịt cá qua một quá trình thuỷ phân có tác nhân là các hệ enzyme có sẵn trong ruột cá cùng với một loại vi khuẩn kỵ khí chịu mặn. Đƣợc sử dụng rộng rãi trong ẩm thực của các quốc gia Đông Nam Á nhƣ Việt Nam và Thái Lan,. để làm nƣớc chấm hoặc gia vị chế biến các món ăn. Chén nƣớc mắm dùng chung giữa mâm cơm đƣợc coi là nét đặc trƣng cho văn hoá chia sẻ trong ẩm thực Việt Nam.
Ngoài ra, loại nƣớc mắm nhỉ để lâu năm còn đƣợc bà con vùng biển dùng nhƣ một loại thức uống để chống cảm lạnh khi phải ngâm mình lâu dƣới nƣớc. Nƣớc mắm nhỉ (hay còn gọi là mắm nhĩ) là nƣớc cốt đầu tiên của thùng cá ƣớp muối trong nhiều tháng. Thƣờng nƣớc mắm nhỉ có độ đạm từ 25 -28 độ đạm, có vị ngọt đạm, mặn dịu, không gắt. Nƣớc mắm đƣợc sản xuất ở hầu hết các nƣớc Châu Á.
Nƣớc mắm có thể làm từ cá sống, cá khô; hoặc từ cả các loại sò hến, tôm cua. Một số loại nƣớc mắm đƣợc làm từ cá nguyên con, một số khác thì chỉ đƣợc từ tiết hay nội tạng cá. Một số loại nƣớc mắm chỉ có cá và muối, một số khác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 có thể có thêm dƣợc thảo và gia vị. Nƣớc mắm lên men ngắn ngày có mùi tanh đặc trƣng của cá.
Quá trình lên men dài ngày sẽ giảm đƣợc mùi tanh và tạo ra hƣơng vị mùi quả hạch và béo hơn. Nƣớc mắm châu Á thƣờng đƣợc chế biến từ cá cơm, muối, và nƣớc, và cần đƣợc tiêu thụ điều độ vì nó có vị rất mạnh. Nƣớc mắm Thái Lan rất giống mắm Việt Nam và đƣợc gọi là nam pla ( า). Tại Trung Quốc, nó đƣợc gọi là ngƣ lộ (魚露, yúlù), tại Triều Tiên yeotgal (엿갈), tại Indonesia kecap ikan và tại Philippines patis.
Tại Nhật Bản, ba loại mắm đƣợc sử dụng; shottsuru ở tỉnh Akita, ishiru ở tỉnh Ishikawa, và ikanago- jōyu ở tỉnh Kagawa. Bã cá giống mắm ở Indonesia đƣợc gọi là trasi, tại Campuchia prahok (Bò hóc) và thƣờng dùng cá đã để hơi ƣơn trƣớc khi ƣớp muối. Ngƣời Mã Lai cũng có cục gạnh cá gọi là belacan. Mắm Lào đƣợc gọi là padek, đƣợc chế biến từ cá nƣớc ngọt.
Có một loại nƣớc mắm cũng đã từng phổ biến ở thời La Mã cổ đại, tiếng Latin gọi là garum hoặc liquamen, và cũng tồn tại trong nhiều loại nƣớc chấm nhƣ oxygarum (pha với giấm), meligarum (pha với mật ong), v. Nƣớc mắm cũng là một trong những đặc sản ở vùng Hispania Baetica. Trong tiếng Anh, nó đƣợc gọi là fish sauce. Nƣớc chấm Worcestershire ở Anh là một sản phẩm tƣơng tự, loại nƣớc chấm này đƣợc mang từ Ấn Độ sang Anh Quốc.
Ngày nay, ngƣời ta dùng cá trống để làm garum, nhƣng không đƣợc lên men. Mỗi nƣớc có kiểu sản xuất khác nhau tạo ra sản phẩm có giá trị dinh dƣỡng và giá trị cảm quan khác nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Tên các loại nƣớc mắm và tỷ lệ phối trộn Nƣớc mắm Điều kiện và thời gian lên men Nhật Bản Tỷ lệ 5 : 1 = Cá : Muối + gạo lên men và koji (3 : 1) Shottsuru Thời gian lên men : 6 tháng Uwo - shoyu Hàn Quốc Tỷ lệ 4 : 1 = Cá : Muối (6 tháng) Jeot - kal Việt Nam Tỷ lệ 3: 1 - 3 : 2 = Cá : Muối (4 - 12 tháng) Nƣớc mắm Thái Lan Tỷ lệ 5 : 1 = Cá : Muối (5 - 12 tháng) Nam - pla Malaysia Tỷ lệ 5 : 1 - 3 :1 = Cá : Muối + đƣờng + me Budu (3 - 12 tháng) Philippine 3 : 1 - 4 : 1 = Cá : Muối (3 - 12 tháng) Patis Bruma 5 : 1 = Cá : Muối (3 - 6 tuần) Ngapi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 8 (Nguồn: Sách tham khảo Fish Permentation Technology, biên tập bởi Cherl- Ho Lee, Keith H.
Alan Reilly, tác giả the United Nations University, 1993) Hoạt động của doanh nghiệp trong cung ứng sản phẩm nƣớc mắm Căn cứ vào hoạt động thực tế của các nhà cung ứng nƣớc mắm ra thị trƣờng, tác giả đề cập tới 4 nhóm đối tƣợng cung ứng nƣớc mắm: Hộ gia đình tự sản xuất, tự tiêu thụ; hộ gia đình sản xuất và cung ứng nhỏ lẻ cho các nhà cung ứng; doanh nghiệp sản xuất đồng thời thực hiện cung ứng; doanh nghiệp chuyên môn hóa hoạt động cung ứng. - Nhóm 1: Hộ gia đình sản xuất và thực hiện tiêu thụ tại chỗ Ngoài một số cơ sở sản xuất nƣớc mắm tại các làng nghề nổi tiếng xƣa nay, có đăng kí kiểm định chất lƣợng của cơ quan chủ quản thì vẫn còn một số nơi sản xuất nƣớc mắm theo kiểu tự phát. Điều đáng bàn nhất ở các cơ sở này là điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo. Thông thƣờng, nƣớc mắm này đƣợc đóng trong các can hoặc chai nhựa, bên ngoài có dán sơ sài hoặc không dán nhãn mác.
Nƣớc mắm không rõ nguồn gốc này đƣợc lƣu hành nhiều nhất tại các chợ thông qua các thƣơng lái thu gom rồi mang đi tiêu thụ. - Nhóm 2: Hộ gia đình sản xuất và cung ứng cho các doanh nghiệp cung ứng Các hộ gia đình thuộc nhóm này thƣờng có đăng kí kiểm định chất lƣợng của cơ quan chủ quản. Họ đƣợc tham gia vào những tổ chức, hiệp hội nghề để tìm hiểu, học hỏi và phát triển cơ sở sản xuất của gia đình. Sản phẩm mà đối tƣợng này cung ứng phải đảm bảo chất lƣợng, đƣợc tổ chức trung gian tiêu thụ và tổ chức kiểm định chất lƣợng chứng nhận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 9 - Nhóm 3: Doanh nghiệp sản xuất đồng thời thực hiện cung ứng Xuất phát từ nhu cầu sử dụng nƣớc mắm an toàn, chất lƣợng ngày càng gia tăng, các hộ gia đình hoặc chuyển đổi mô hình cung ứng từ cơ sở sản xuất cung ứng nhỏ lẻ thành các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng ở quy mô lớn hơn, nhằm đáp ứng đƣợc nhiều hơn, tốt hơn nhu cầu của thị trƣờng. Các doanh nghiệp này chủ động sản xuất và tiếp cận nhu cầu thị trƣờng, điển hình có các nhãn hiệu nhƣ: Hạnh Phúc, Hồng Hạnh, Phú Quốc, Liên Thành, Nam Phan, Barona… Bên cạnh đó các doanh nghiệp sản xuất nƣớc mắm cũng chủ động tìm kiếm ứng dụng công nghệ vào sản xuất để đa dạng hóa sản phẩm. - Nhóm 4: Doanh nghiệp chuyên môn hóa hoạt động cung ứng Nguồn nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp này chính là nguồn nguyên liệu đầu ra của một số cơ sở sản xuất, doanh nghiệp chỉ sản xuất nƣớc mắm. Vì những lý do riêng nên họ không tự thiết lập hệ thống phân phối mà thông qua các doanh nghiệp chuyên môn cung ứng này.
Các doanh nghiệp chỉ chuyên môn trong cung ứng nƣớc mắm luôn phải theo dõi sát sao toàn bộ quá trình tạo ra đầu vào cho mình nhằm đảm bảo yêu cầu đƣa ra. Sử dụng nhà cung ứng chuyên nghiệp: Hệ thống siêu thị Big C, Co-op Mart, Metro, FiviMart… sẽ giúp nƣớc mắm tiếp cận với ngƣời tiêu dùng dễ dàng hơn. Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp cung ứng nƣớc mắm ra thị trƣờng qua hệ thống phân phối riêng nhƣ Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang, Tập đoàn Unilever, Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Ma San, Công ty Cổ phần Thực phẩm Hồng Phú… Bên cạnh đó có nhiều doanh nghiệp còn hoạt động thông qua Hiệp hội nƣớc mắm Phú Quốc, Hiệp hội nƣớc mắm Bình Định, Hiệp hội nƣớc mắm Bình Thuận… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 10 Đặc biệt phải kể tới sự liên kết của các doanh nghiệp trong sản xuất và cung ứng nƣớc mắm ra thị trƣờng trong thời gian gần đây đã phát huy đƣợc vai trò to lớn. Có thể kể tới hoạt động của Hiệp hội nƣớc mắm Phú Quốc, Hiệp hội nƣớc mắm Bình Định, Hiệp hội nƣớc mắm Bình Thuận.
Các cơ sở sản xuất nƣớc mắm tạo dựng đƣợc mối quan hệ hữu cơ với các cơ sở cung ứng nguyên liệu, tạo đƣợc nguồn nguyên liệu tƣơng đối ổn định. Tuy nhiên thực tế cho thấy có nhiều cơ sở sản xuất nƣớc mắm vận hành cơ chế thu gom nguyên liệu cứng nhắc khi thu gom nguyên liệu từ nông dân, điển hình nhƣ việc hợp đồng ký từ giá năm trƣớc nhƣng thị trƣờng đã thay đổi ở năm nay, cơ sở thu mua không tăng giá mà quyết áp theo giá trên hợp đồng cũ, vì vậy nông dân phá hợp đồng, bán cho thƣơng lái. Nhu cầu sử dụng nước mắm của khách hàng Trong bữa ăn hàng ngày của gia đình Việt Nam thƣờng không thể thiếu nƣớc mắm. Nƣớc mắm có mùi vị thơm ngon, ngọt dịu, màu đỏ nâu hoặc vàng sẫm.