Chương 1 nêu lên những lý do cần thiết để nghiên cứu đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ di động VinaPhone tại huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận”. Bên cạnh đó cũng trình bày tổng quan về đề tài với các nội dung như mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nguyên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiển của đề tài, kết cấu luận văn. 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Tổng quan một số nội dung của đề tài nghiên cứu bao gồm: mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận văn. Giới thiệu cơ sở lý thuyết về CLDV viễn thông và SHL của khách hàng để đưa ra mô hình lý thuyết của nghiên cứu.
Nội dung chương này tập trung vào 3 nội dung chính đó là: (1) Lý thuyết về chất lượng dịch vụ viễn thông di động, SHL của khách hàng và mối liên hệ giữa các yếu tố đó với nhau, (2) Tổng kết các mô hình nghiên cứu trước đây về hài lòng của khách hàng, (3) Đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu là những nội dung được tác giả trình bày trong chương 2 này.1 Dịch vụ và dịch vụ viễn thông di động 2.1 Dịch vụ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ. Nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thống nhất dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Theo Kotler và Armstrong (2014) định nghĩa “dịch vụ là một hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác về cơ bản là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì. Sản xuất của nó có thể có hoặc có thể không gắn với một sản phẩm vật chất”.
Còn theo Philip Kotler và Kellers (2006) “dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ có 5 đặc điểm cơ bản như sau: - Tính vô hình: Không thể dùng các giác quan để cảm nhận được những tính chất cơ lý hóa của dịch vụ; - Không đồng nhất: Ít có tiêu chuẩn chung nào để đánh giá chất lượng của dịch vụ; 6 - Tính không thể tách rời: Thể hiện ở việc dịch vụ được cung ứng và tiêu dùng cùng một lúc; - Không thể cất giữ và tích trữ: Đơn giản chỉ có thể tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp cho khách hàng; - Tính không thể chuyển quyền sở hữu: Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ và được hưởng những lợi ích mà dịch vụ mang lại trong thời gian nhất định mà thôi.2 Dịch vụ viễn thông di động Theo Luật Viễn thông số 41/2009/QH12 của Quốc Hội khóa 12 thì “Viễn thông được hiểu như là cách thức trao đổi thông tin, dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các công nghệ hiện đại khác. Dịch vụ viễn thông di động là dịch vụ viễn thông được cung cấp thông qua mạng viễn thông di động.
Bao gồm các tiện ích nghe, gọi, nhắn tin, truy cập internet và dịch vụ giá trị gia tăng khác.” Tất cả các tiện ích này được được tích hợp thông qua một thẻ nhớ thông minh được gọi là SIM (Subscriber Identity Module). Mỗi module này gắn với một đầu số của nhà mạng và được gắn vào thiết bị đầu cuối để thực hiện những tiện ích trên thiết bị đầu cuối. Dịch vụ viễn thông di động giúp cho khách hàng sử dụng thông tin di động bất cứ nơi nào trong vùng phủ sóng. Để sử dụng dịch vụ viễn thông di dộng, khách hàng phải đăng ký sử dụng dịch vụ.
Có hai hình thức đăng ký sử dụng dịch vụ viễn thông di động phổ biến nhất đó là đăng ký thuê bao trả trước và trả sau: - Với thuê bao trả trước, để sử dụng dịch vụ này khách hàng đăng ký hòa mạng sử dụng dịch vụ viễn thông qua phiếu đăng ký sử dụng dịch vụ của nhà mạng cung cấp. Khách hàng phải thanh toán trước tiền cho nhà mạng thông qua việc nạp tiền vào tài khoản của thuê bao trả trước và lúc đó dịch vụ của nhà mạng mới được kích hoạt để khách hàng sử dụng. Việc thanh toán cước khách hàng sử dụng sẽ được thực hiện trừ vào tài khoản thuê bao ngay sau khi khách hàng vừa sử dụng xong một hay nhiều dịch vụ được ghi nhận trên hệ thống tính cước của nhà mạng; - Với thuê bao trả sau, khách hàng phải ký hợp đồng sử dụng dịch vụ viễn thông di động trả sau với nhà mạng. Việc thanh toán cước sử dụng hằng tháng sẽ được khách hàng thực hiện vào cuối tháng.
7 Ngoài ra còn có các gói cước mua trọn một gói (combo) bổ sung trong hai hình thức đăng ký trên. Gói combo bao gồm trong đó nhiều dịch vụ được thiết kế sẵn như số lượng phút thoại, số tin nhắn, lưu lượng data và các dịch vụ đặc thù khác đi kèm được thiết kế dành cho gói cước được sử dụng trong một khoảng thời gian qui định tùy theo chu kỳ gói. Ví dụ như gói có chu kỳ: 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng. Khi khách hàng đăng ký sử dụng gói combo thì phải thanh toán toàn bộ giá trị gói combo cho dù khách hàng có sử dụng, sử dụng hết dung lượng/dịch vụ hay không.2 Chất lượng dịch vụ CLDV là một phạm trù rộng và có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ, nhưng bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Theo Joseph Juran & Frank Gryna (1988) “Chất lượng là sự phù hợp đối với nhu cầu”; Còn Armand Feigenbaum (1945), thì “Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng - những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn – và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”; Theo American Society for Quality “Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”; Còn theo quan điểm của Gronroos (1984) cho rằng, CLDV được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào. Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, 8 tiếp cận và tiếp xúc khách hàng.
Muốn tạo dịch vụ tốt, phải có sự giao thoa giữa chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Đặc điểm của chất lượng dịch vụ viễn thông di động: có 6 đặc điểm cơ bản sau: - Đặc điểm thứ nhất: Dịch vụ viễn thông di động rất khác với các sản phẩm của ngành sản phẩm công nghiệp, nó không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hoá cụ thể. CLDV được đánh giá dựa vào kết quả có ích cuối cùng của quá trình truyền đưa tin tức thông qua mạng lưới hạ tầng viễn thông dưới dạng dịch vụ; - Đặc điểm thứ hai: Đó là sự tách rời của quá trình tiêu dùng và sản xuất dịch vụ viễn thông. Hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất.
Ví dụ: trong đàm thoại điện thoại bắt đầu đăng ký đàm thoại là bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu quả có ích của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc. Trong viễn thông, kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữ được ở trong kho, không dự trữ được, không thể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng, tái sản xuất. Từ đặc điểm này rút ra yêu cầu về CLDV viễn thông phải cao nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến tiêu dùng. Hơn nữa, để sử dụng dịch vụ viễn thông người sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm xác định của nhà cung cấp dịch vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ; - Đặc điểm thứ ba: Xuất phát từ truyền đưa tin tức rất đa dạng, nó xuất hiện không đồng đều về không gian và thời gian.
Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn. Trong điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để đảm báo chất lượng dịch vụ thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải dự trữ đáng kể năng lực sản xuất và lực lượng lao động; - Đặc điểm thứ tư: đó là sự khác biệt so với ngành sản xuất công nghiệp, nơi mà đối tượng chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá học), còn trong sản xuất viễn thông, thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian. Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải nhờ các thiết bị viễn thông được biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở các nơi nhận tín hiệu phải được 9 khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó. Mọi sự thay đổi thông tin, đều có nghĩa là sự méo mó, mất đi giá trị sử dụng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và dẫn đến tổn thất lợi ích của khách hàng; - Đặc điểm thứ năm: là quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa người gửi và người nhận thông tin.