Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết tổng quan cho toàn bộ luận văn, là lý luận cơ bản về khách hàng và Quản trị quan hệ khách hàng. Ngoài ra cũng trình bày về khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ viễn thông, đặc điểm để nghiên cứu quản trị quan hệ loại khách hàng này. Khách hàng và tầm quan trọng phải xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng 1. Khái niệm khách hàng, khách hàng cá nhân.
Quản lý quan hệ khách hàng hay CRM (tiếng Anh: Customer relationship management) là một phương pháp giúp các doanh nghiệp tiếp cận và giao tiếp với khách hàng một cách có hệ thống và hiệu quả, quản lý các thông tin của khách hàng như thông tin về tài khoản, nhu cầu, liên lạc và các vấn đề khác nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn. Các mục tiêu tổng thể là tìm kiếm, thu hút, giành niềm tin khách hàng mới, duy trì những đối tác đã có, lôi kéo khách hàng cũ trở lại, giảm chi phí tiếp thị và mở rộng dịch vụ khách hàng. Việc đo lường và đánh giá mối quan hệ với khách hàng là rất quan trọng trong mục tiêu thực hiện chiến lược. Hiện nay, đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về CRM và phạm vi bao quát cũng như các hoạt động của nó.
Đồng thời, cũng có hàng chục loại sản phẩm phần mềm CRM do các công ty khác nhau cung cấp cho khách hàng. Nhìn chung, các khái niệm về CRM (Customer Relationship Management) được xác định theo 3 quan điểm: (1) nhấn mạnh yếu tố công nghệ, (2) nhấn mạnh đến quy trình kinh doanh hay bán hàng và (3) coi CRM chính là chiến lược kinh doanh. Quan điểm thứ nhất coi CRM như một giải pháp công nghệ trợ giúp cho quản lý những vấn đề liên quan đến khách hàng là quan điểm tương đối phổ biến. Theo quan điểm này CRM là một hệ thống thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cùng với những phương pháp phân tích đưa ra những báo cáo, bảng biểu giúp doanh nghiệp có bức tranh tổng thể về khách hàng, thị trường và những vấn đề cần 7 quan tâm khác trong kinh doanh.
Mei Lin Fung cho rằng “CRM là siêu tập hợp các mô hình, phương pháp và công nghệ kinh doanh hiện đại có quan hệ qua lại lẫn nhau được xây dựng nhằm tạo dựng duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với những khách hàng tiềm năng nhất”. CRM là những phương pháp trong thời đại công nghệ thông tin, là một chương trình phần mềm và thường sử dụng khả năng của Internet nhằm hỗ trợ quản lý những khó khăn trong các mối quan hệ với khách hàng. Quan điểm thứ 2 cho rằng CRM như là năng lực của doanh nghiệp trong tiếp cận hoặc thực hiện trao đổi mua bán với khách hàng thông qua xây dựng và thực hiện quy trình bán hàng. Trên quan điểm này CRM được hiểu như là một quy trình bán hàng nằm trong hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000.
Với các doanh nghiệp thương mại thì đây là quy trình trung tâm của cả hệ thống quản lý. Việc triển khai hệ thống CRM trong doanh nghiệp sẽ tập trung vào một số bộ phận quản lý tiếp xúc với khách hàng như: Marketing, bán hàng, kế hoạch. David Sims cho rằng “CRM là quá trình mà doanh nghiệp sử dụng những kiến thưc sâu rộng về khách hàng được tích lũy theo thời gian một cách hiệu quả để xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của khách hàng mục tiêu”. Quan điểm thứ ba, coi CRM như chiến lược kinh doanh là quan điểm toàn diện nhất.
Theo quan điểm này, CRM là một chiến lược kinh doanh nhằm tối ưu hóa lợi nhuận, doanh thu và sự hài lòng của khách hàng (định nghĩa của Gartner); là một chiến lược tổng hợp với định hướng khách hàng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Với quan điểm này, CRM thường được cấp lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp quan tâm. Vì thế, mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị quan hệ khách hàng, và cho đến giờ thì các nhà quản trị, các nhà nghiên cứu thị trường vẫn còn tranh cãi về khái niệm chính xác của "quản trị quan hệ khách hàng". Tuy nhiên, để khái quát hóa và tiếp cận đúng theo bản chất của khái niệm về quản trị quan hệ khách hàng, trong toàn luận văn này, sử dụng khái niệm CRM với nội dung là chiến lược kinh doanh, cụ thể được hiểu: "là tập hợp các hoạt động mang 8 tính chiến lược nhằm lựa chọn, thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp và lâu dài giữa doanh nghiệp và khách hàng trên cơ sở làm thích ứng các quá trình tạo ra lợi ích của khách hàng và doanh nghiệp".
CRM là một mô hình quản trị, trong đó khách hàng là trung tâm của mọi hoạt động và mọi quá trình mà doanh nghiệp thực hiện [1]. CRM sử dụng công nghệ hiện đại, kế hoạch hóa các chiến lược tích hợp, các kỹ thuật marketing cá nhân và các công cụ phát triển tổ chức để xây dựng các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, nhằm tăng doanh thu lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. CRM bao gồm cả nguyên lý, chiến lược, giải pháp, ứng dụng, hệ thống, phần mềm, và ý tưởng cho hoạt động quản trị quan hệ khách hàng hiệu quả. Lý luận về CRM vẫn đang được xây dựng và hoàn chỉnh nhưng có thể khẳng định rằng CRM theo nghĩa rộng phải là một chiến lược kinh doanh định hướng theo khách hàng và CRM không thể chỉ là dịch vụ khách hàng hay công nghệ phần mềm để quản lý hồ sơ khách hàng thuần túy như nhiều người quan niệm.
CRM bao gồm nghiên cứu nhu cầu và hành vi của khách hàng để xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Việc thiết lập mối quan hệ này được xem là yếu tố trung tâm quyết định thành công của doanh nghiệp. Quản trị quan hệ khách hàng phải mang lại lợi ích cho cả hai bên: doanh nghiệp và khách hàng trên cơ sở thích ứng được quá trình tạo ra lợi ích cho khách hàng qua đó tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp. Do đó, quản trị quan hệ khách hàng đối với doanh nghiệp cần được coi là một quy trình liên kết tất cả các hoạt động marketing, bán hàng và dịch vụ khách hàng để thỏa mãn khách hàng của doanh nghiệp.
Phân loại khách hàng Việc phân loại khách hàng giúp cho doanh nghiệp hiểu và biết được đặc tính, tính cách riêng biệt của từng nhóm khách hàng, để có thể đưa ra những phương pháp riêng nhằm tiếp cận với khách hàng một cách có hiệu quả. Hiện nay có rất nhiều tiêu chí để phân loại khách hàng. Với mục đích nghiên cứu của luận văn này, khách hàng được phân loại theo một số tiêu chí như sau: 9 1. Phân loại khách hàng theo phạm vi - Khách hàng bên trong (khách hàng nội bộ): Là toàn thể cán bộ công nhân viên tại doanh nghiệp, đây là những người hiện tại đang làm được hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp đó.
Về phía doanh nghiệp, để tạo được động lực làm việc cho nhân viên doanh nghiệp cần đáp ứng được nhu cầu của nhân viên, có những chính sách ưu đãi dành riêng cho nhân viên để phát huy được lòng trung thành và sự nhiệt tình hết mình trong công việc. Vây nên họ cũng là khách hàng, và đó là các khách hàng bên trong của doanh nghiệp, nếu các nhân viên trong doanh nghiệp có khả năng làm việc với nhau, quan tâm đáp ứng nhu cầu và làm hài lòng đồng nghiệp, thì họ mới có được tinh thần làm việc tốt nhất, mới có thể phục vụ các khách hàng bên ngoài của doanh nghiệp một cách hiệu quả, thống nhất. - Khách hàng bên ngoài (Thường gọi là khách hàng): Họ là những là những người sử dụng các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp bằng cách giao dịch dưới nhiều hình thức như: gặp trực tiếp, tiếp xúc gián tiếp qua điện thoại, email hoặc các trang giao dịch trực tuyến. Đây là nguồn khách hàng chiếm vai trò chủ yếu của doanh nghiệp, nếu thiếu họ thì doanh nghiệp không thể tồn tại được.
Bao gồm 03 đối tượng như sau: + Người sử dụng: Là các cá nhân hoặc tổ chức trực tiếp sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. + Người mua: Là những người có nhu cầu tìm hiểu thông tin để mua sản phẩm, trực tiếp lựa chọn, ra quyết định mua và thanh toán tiền. + Người hưởng thụ: Các cá nhân hoặc tổ chức được hưởng lợi (hoặc bị ảnh hưởng bởi) từ việc sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Phân loại theo nhóm đối tượng - Khách hàng tổ chức, doanh nghiệp: là những tổ chức, doanh nghiệp sử dụng một hay nhiều dịch vụ để phục vụ sản xuất kinh doanh, vận hành.
Tùy vào nhu cầu, quy mô của tổ chức, doanh nghiệp mà sử dụng với số lượng lớn. - Khách hàng cá nhân và hộ gia đình: Là cá nhân hộ gia đình sử dụng dịch vụ cho nhu cầu của bản thân và gia đình mình với mức sử dụng thường nhỏ hơn so 10 với nhóm khách hàng tổ chức doanh nghiệp. Dung lượng tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của khách hàng cá nhân thường là nhỏ lẻ tuy nhiên về số lượng khách hàng thì lại lớn hơn so với khách hàng tổ chức doanh nghiệp rất nhiều. Tại TTKD VNPT - Bắc Giang, khách hàng cá nhân hiện đang là tập khách hàng lớn và tiềm năng, với đặc điểm sử dụng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, tin học đáp ứng nhu cầu liên lạc của bản thân cá nhân, gia đình người sử dụng.
Quy mô của nhóm khách hàng cá nhân ngày càng được mở rộng. Phân loại theo quan hệ mua bán - Khách hàng lâu dài (Khách hàng truyền thống): Là khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ một cách thường xuyên và sử dụng trong một thời gian dài. Có thể coi đây là những khách hàng trung thành, họ sử dụng sản phẩm, dịch vụ như một thói quen từ lâu, khó thay đổi. - Khách hàng mới: Là những khách hàng mới sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, mức độ quan hệ của doanh nghiệp với họ là chưa sâu sắc, họ dùng để trải nghiệm sản phẩm dịch vụ và nếu thấy phù hợp sẽ sử dụng tiếp hoặc không phù hợp thì có những lựa chọn khác 1.
Phân loại theo phương thức bán hàng - Khách hàng là người trung gian: Là những người sử dụng sản phẩm, dịch vụ không dành cho nhu cầu của bản thân mà là dùng cho việc phục vụ sản xuất kinh doanh để kiếm lợi nhuận.