chương 1. Trong chương tiếp theo nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích sơ lược về lý thuyết được áp dụng trong mô hình nghiên cứu để có cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu ở chương 3. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm sự hài lòng Mano và Oliver (1993) cho rằng sự hài lòng là trạng thái cảm xúc thay đổi liên tục trong quá trình sử dụng sản phẩm và được đánh giá sau khi tiêu dùng.
Halstead và cộng sự (1994) xem sự hài lòng là một trạng thái cảm xúc, được hình thành trên cơ sở so sánh kết quả sản phẩm nhận được với một số tiêu chuẩn đặt ra trước khi mua sản phẩm. Davidoff (1993) cho rằng sự hài lòng (thỏa mãn) của khách hàng được đo bằng sự so sánh giữa dịch vụ họ cảm nhận được và dịch vụ họ trông đợi từ trước. Sự hài lòng của học viên khi tham gia mô hình đào tạo trực tuyến được định nghĩa và giải thích dựa trên lý thuyết lựa chọn tiêu dùng với giả định tối đa hóa lợi ích. Giả định tối đa hóa lợi ích là một cách diễn đạt cho vấn đề kinh tế cơ bản.
Các mong muốn của người tiêu dùng thì luôn vượt quá nguồn lực cung cấp để thỏa mãn những mong muốn này. Từ đây có thể định nghĩa mức độ hài lòng của học viên khi tham gia phương thức đào tạo trực tuyến là trạng thái cảm xúc của học viên về chương trình đào tạo trực tuyến được xác định trên cơ sở cảm nhận từ trải nghiệm thực tế so với mong đợi khi sử dụng dịch vụ đào tạo trực tuyến tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Khái niệm đào tạo trực tuyến Đào tạo trực truyến hay còn gọi là E-learning được viết tắt từ Electronic Learning. E-learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử.
Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính. E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Theo một cách hiểu khác, đào tạo trực tuyến là một kiểu dạy học trong đó người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video,.; các nội dung học tập có thể được phân phát qua các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet, Intranet, các website,. 6 Trong phạm vi của nghiên cứu, đào tạo trực tuyến được định nghĩa là hình thức dạy và học, cung cấp thông tin qua các thiết bị số như máy tính, điện thoại di động và các thiết bị có thể kết nối internet.
Các hình thức của đào tạo trực tuyến Theo Trịnh Văn Biều (2012) thì có 5 loại hình đào tạo trực tuyến phổ biến hiện nay như sau: Thứ nhất: Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin. Thứ hai, đào tạo dựa trên máy tính không nối mạng (CBT - Computer-Based Training) là hình thức đào tạo sử dụng các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training. Thứ ba, đào tạo dựa trên web (WBT - Web- Based Training) là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web.
Với loại hình này, nội dung học, các thông tin về người học và quản lý khóa học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt web. Bên cạnh đó, người học có thể giao tiếp với nhau, với giáo viên; sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail.và có thể nghe được giọng nói, nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình. Thứ tư, đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training) là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, xem chương trình, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên. Và cuối cùng là đào tạo từ xa (Distance Learning) là hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm.
Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web. Trong phạm vi của nghiên cứu, tác giả sẽ tìm hiểu và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của học viên khi tham gia chương trình đào tạo theo phương thức từ xa trực tuyến tại trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, vì thế nghiên cứu sẽ tập trung đến loại hình đào tạo thứ năm của đào tạo trực tuyến với hình thức đào tạo từ xa. Mô hình lý thuyết liên quan đến đào tạo trực tuyến 2. Thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý được hai nhà tâm lý học và xã hội Ajzen và Fishbein phát triển vào năm 1975.
Theo đó, thuyết hành động hợp lý cho rằng các hành vi của con người có thể dự đoán trước từ ý định hành vi thông qua thái độ và tiêu chuẩn xã hội chủ quan. Theo TRA thái độ và các tiêu chuẩn chủ quan là chức năng của niềm tin cụ thể bao gồm các niềm tin về hành vi và tiêu chuẩn liên quan trực tiếp đến ý định của một người để thực hiện một hành vi nhất định (Ajzen và Fishbein, 1975). Thái độ với quyết định hành vi thể hiện niềm tin của cá nhân tích cực hay tiêu cực đối với hành vi của cá nhân; tiêu chuẩn xã hội chủ quan thể hiện ảnh hưởng của mối quan hệ xã hội đến quyết định hành vi của cá nhân. Sự phát triển của TRA bắt nguồn từ lĩnh vực tâm lý xã hội.
Vào những năm 1862 các nhà tâm lý học bắt đầu phát triển lý thuyết nhằm nghiên cứu liên quan đến việc xác định thái độ ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của con người. Khởi nguồn từ những nhận định ban đầu đó, các nghiên cứu các phát triển dựa trên sự kế thừa và phát triển từ lý thuyết TRA. Những giả thuyết của nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc thái độ có thể giải thích hành động của con người. Thomas và Znaniecki là những nhà tâm lý đầu tiên xem thái độ là một quá trình xác định phản ứng thực tế và tiềm năng của một cá nhân.
Từ đó, các nhà khoa học xã hội đưa ra nhận định cho rằng thái độ là một nhân tố tiên đoán cho hành vi (Ajzen và Fishbein, 1988). Ajzen và Fishbein (1988) cho rằng các cá nhân thường sử dụng các thông tin sẵn có một cách hệ thống và hợp lý. Mọi người thường xem xét hành vi của họ sẽ gây ảnh hưởng như thế nào trước khi quyết định tham gia hoặc không tham gia vào một hành vi nhất định. Dựa trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây, Ajzen và Fishbein đã phát triển lý thuyết có thể tiên đoán và hiểu được hành vi và thái độ của cá nhân và được gọi là Lý thuyết hành động hợp lý – TRA.
Theo đó, lý thuyết TRA xem xét các ý định về hành vi là những nhân tố dự báo của hành vi cá nhân hơn là hơn là thái độ. TRA sớm vấp phải những hạn chế nhất định, một trong những hạn chế đó là những cá nhân họ cảm thấy ít quyền quyết định về hành vi và thái độ của họ. Để cân bằng được các yếu tố trên, Ajzen và Fishbein (1988) thêm phần tử thứ ba vào lý thuyết ban đầu, 8 đó là khái niệm liên quan đến nhận thức kiểm soát hành vi. Việc bổ sung các yếu tố này đã phát triển với tên gọi là lý thuyết hành vi dự định – TPB.
Thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavior) Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, 1975). TPB cho rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Theo thuyết hành vi dự định thì có ba yếu tố quan trọng quyết định hành vi của cá nhân bao gồm: (i) Thái độ; (ii) Tiêu chuẩn chủ quan; (iii) Kiểm soát hành vi nhận thức.
Ajzen và Fishbein (1988) cho rằng thái độ là niềm tin tích cực hoặc tiêu cực của một cá nhân về việc thực hiện một hành vi cụ thể, những niềm tin này được gọi là niềm tin hành vi. Một cá nhân sẽ có ý định thực hiện một hành vi nhất định khi cá nhân đó đánh giá hành vi là tích cực. Thái độ được xác định bởi niềm tin của cá nhân về hậu quả của việc thực hiện hành vi thông qua việc đánh giá kết quả của việc thực hiện hành vi. Tiêu chuẩn chủ quan cũng được Ajzen và Fishbein (1988) giả định rằng đây là một chức năng của niềm tin thông qua những các nhân cụ thể trong việc tán thành hoặc không chấp nhận thực hiện hành vi.
Cụ thể, nhóm tác giả cho rằng một cá nhân sẽ có ý định thực hiện hành vi khi những người quan trọng quanh họ nghĩ rằng họ nên thực hiện hành vi đó. Những người quan trọng có thể là chồng/vợ/người thân trong gia đình/bạn thân… Cuối cùng, kiểm soát hành vi được định nghĩa là đánh giá của chính bản thân cá nhân về mức độ dễ dàng hoặc khó khăn để thực hiện hành vi đó. Một cá nhân sẽ không có ý định mạnh mẽ để thực hiện hành vi của họ nếu họ tin rằng không có bất kỳ nguồn lực hoặc cơ hội để thực hiện hành vi dù họ có thái độ tích cực đối với hành vi và tin rằng những người quan trọng sẽ chấp nhận hành vi đó. Đây là sự khác biệt lớn nhất giữa TRA và TPB.
Nhận thức này có thể phản ánh những kinh nghiệm trong quá khứ, 9 dự đoán tình huống sắp tới và thái độ của các định mức có ảnh hưởng bao quanh cá nhân. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model) Mô hình chấp nhận công nghệ được Davis (1989) phát triển dựa trên nền tảng của mô hình lý thuyết hành động có lý trí (TRA).