Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. z 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm thanh khoản Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh.
Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản được được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Như vậy có thể nói ngân hàng được gọi là có tính thanh khoản khi có sẵn một lượng tài sản có thanh khoản cần thiết hoặc là có khả năng đi vay hay huy động tức thời được nguồn vốn thanh khoản hay bán được các tài sản thuộc bên tài sản. Cung, cầu và trạng thái thanh khoản 2.
Cung thanh khoản (còn gọi là luồng tiền vào) Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng, bao gồm: Các khoản tiền gửi đang đến hạn Doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ Thu hồi tín dụng đã cấp Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng Vay mượn từ thị trường tiền tệ 2. Cầu thanh khoản (còn gọi là luồng tiền ra) Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng, bao gồm: Khách hàng rút các khoản tiền gửi Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ z 5 Thanh toán cổ tức cho các cổ đông 2. Trạng thái thanh khoản ròng Trạng thái thanh khoản ròng là chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm và được xác định như sau: Trạng thái thanh khoản ròng (NLPt) = Tổng cung thanh khoản - Tổng cầu thanh khoản Thặng dư thanh khoản khi NLPt >0 : ngân hàng ở trong tình trạng thừa thanh khoản. Khi đó, nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải sử dụng nguồn thanh khoản thừa để đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản này được sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu thanh khoản trong tương lai.
Đây là trạng thái mất cân bằng của các ngân hàng thương mại, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Trong phạm vi của một ngân hàng, đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản có, chiếm giữ qua nhiều tài sản có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có khả năng sinh lời, hoặc cũng có thể do ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả. Thiếu hụt thanh khoản khi NLPt <0 : ngân hàng đang trong tình trạng thiếu vốn để hoạt động. Khi ngân hàng không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, của nền kinh tế.có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối, nghĩa là thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền kinh tế.
Thiếu vốn gây ra mất cơ hội đầu tư tốt cho ngân hàng, đồng thời cũng có thể gây mất khách hàng khi không có thể cho vay. Do vậy, khi xảy ra thiếu hụt thanh khoản các ngân hàng thường phải sử dụng các biện pháp như sử dụng dự trữ bắt buột dư ra, bán dự trữ thứ cấp (các chứng khoán ngắn hạn do chính phủ phát hành), vay qua đêm, vay tái chiết khấu tại ngân hàng nhà nước, huy động từ thị trường tiền tệ, phát hành chứng chỉ tiền gửi lớn để huy động vốn. RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM 2. Khái niệm rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn (Rudolf Duttweiler, 2009).
Rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại cổ phần Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi thành tiền, hoặc không có khả năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó (Trương Quang Thông, 2010). Theo Trần Huy Hoàng (2011) rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Đây là loại rủi ro đặc trưng trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt quan trọng đối với các tổ chức tài chính. Trong thực tế có không ít trường hợp, một tổ chức kinh tế có tài sản nợ rất ít nhưng hoàn toàn có thể phá sản do yếu tố rủi ro thanh khoản của tài sản không bù đắp nổi khả năng thanh toán tại thời điểm đó.
Vì vậy, rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp. Rủi ro thanh khoản xảy ra khiến cho ngân hàng phải đình trệ hoạt động, gây thua lỗ, mất uy tín và nếu nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản (Nguyễn Văn Tiến, 2014). Dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh khoản Bằng cách thu thập thông tin, nhận xét, đánh giá tình hình thực tế, các nhà quản lý có thể nắm bắt kịp thời các tín hiệu sớm về khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản. Các tín hiệu thị trường này bao gồm: a) Uy tín dân cư: khi uy tín giảm sút thì khả năng khách hàng rút tiền với số lượng lớn là rất cao, dễ đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro thanh khoản cao do đó ngân hàng cần nắm được các thông tin về mức độ tin cậy của các cá nhân và tổ z 7 chức, đặc biệt là khách gửi tiền, đánh giá mức độ này có giảm sút do họ mất lòng tin vào khả năng thanh toán của các khoản tiền gửi đến hạn của ngân hàng hoặc nghi ngờ ngân hàng đang thiếu tiền mặt hay không.
b) Giá trị của cổ phiếu trên thị trường: vì tâm lý nhà đầu tư trước mỗi biến động của thị trường đều được phản ánh qua thị giá cổ phiếu nên khi thị giá cổ phiếu ngân hàng giảm, thường ám chỉ niềm tin của nhà đầu tư vào ngân hàng giảm sút. Từ đó cần phải tìm hiểu xem liệu có phải họ lo ngại về tình hình hoạt động của ngân hàng và nguy cơ khủng khoảng trong tương lai hay không. c) Các mức lãi suất của ngân hàng đang sử dụng: Nếu lãi suất huy động của ngân hàng áp dụng hoặc mức lãi suất đi vay ngân hàng chấp nhận cao hơn mức lãi suất chung của thị trường một cách bất thường thì có thể đó là dấu hiệu ngân hàng đang thiếu vốn và phải huy động với chi phí cao. d) Giá tài sản của ngân hàng bán ra: việc ngân hàng chấp nhận bán tài sản vội vàng và với giá thấp mặc dù phải chịu lỗ lớn để có thể bù đắp vào cung thanh khoản là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp rủi ro thanh khoản.
e) Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng: ngân hàng cần nắm rõ tình hình cấp tín dụng để kịp thời phát hiện những trường hợp không thể giải quyết cấp tín dụng hoặc giải ngân cho khách hàng mặc dù đáp ứng đủ các điều kiện và có hệ số tín nhiệm cao. f) Tần suất và khối lượng vay từ ngân hàng nhà nước: ngân hàng phải thường xuyên vay từ ngân hàng nhà nước với khối lượng lớn để đáp ứng hoạt động kinh doanh sẽ tạo sự nghi ngờ từ phía ngân hàng nhà nước cũng như từ phía ban quản trị ngân hàng về khả năng thanh khoản của ngân hàng đó. Những nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Thứ nhất, sự mất cân bằng giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của nguồn vốn: ngân hàng huy động một lượng lớn tiền gửi và dự trữ ngắn hạn từ cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức cho vay khác để chuyển chúng thành các khoản tín dụng trung và dài hạn. Do đó, xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các z 8 khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động.
Rất hiếm khi dòng tiền từ tài sản cân đối hoàn toàn với dòng tiền cần thiết để đáp ứng việc thanh toán các nguồn vốn huy động. Ngân hàng luôn có một tỷ lệ đáng kể tài sản nợ phải được hoàn trả tức thời như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có thế rút trước hạn. Do đó, ngân hàng phải luôn sẵn sàng thanh khoản. Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất.
Khi lãi suất tăng, người gửi tiền sẽ rút tiền từ nơi có lãi suất thấp để sang gửi ở nơi có lãi suất cao. Người vay tiền có thể dừng các yêu cầu vay mới, tăng cường rút vốn từ hạn mức tín dụng lãi suất thấp. Như vậy, những thay đổi trong lãi suất tác động đồng thời đến nhu cầu gửi tiền và nhu cầu vay vốn. Chính điều này gây ra những tác động rất lớn tới trạng thái thanh khoản của ngân hàng.
Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của các tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thanh khoản và trực tiếp làm tăng chi phí khi vay trên thị trường tiền tệ. Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng yêu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo. Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xóa mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng. Một trong những công việc quan trọng đối với nhà quản lý ngân hàng là luôn liên hệ chặt chẽ với những khách hàng có số dư tiền gửi lớn và những khách hàng đang còn hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng để biết được kế hoạch của họ khi nào thì rút tiền và rút bao nhiêu để có phương án thanh khoản thích hợp.