Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích dữ liệu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái niệm về các thuật ngữ: 2.1 Động lực Đã có nhiều chuyên gia và và tác giả đã nghiên cứu về động lực, động lực được định nghĩa là các hành động hoặc quá trình thúc đẩy, sự kích thích hay sự tác động nhằm khuyến khích tạo ra những nỗ lực cho cá nhân nào đó, nói chung động lực là một cái gì đó (chẳng hạn như nhu cầu hay mong muốn) sẽ là nguyên nhân giúp định hướng hành động của một cá nhân (Merriam – Webster, 1997). Động lực là một trạng thái được hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả hay phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc (Vroom, 1964). Theo Mitchell (1982) động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình.
Baron (1992) định nghĩa động lực là trạng thái mà người lao động muốn hành động và lựa chọn hành động nhằm đạt được thành công tại nơi làm việc. Hơn nữa, động lực được hiểu như là loại năng lượng, năng lượng này khuyến khích người lao động thực hiện các hành vi liên quan đến công việc và ảnh hưởng đến phong cách làm việc, cường độ, thời gian và sự chỉ đạo. Kinman & Kinman (2001) đã đưa ra các điểm nổi bật trong định nghĩa về động lực: Đầu tiên, động lực có thể xuất phát từ sự kích thích bên ngoài hoặc xuất phát từ bên trong con người. Thứ hai, động lực được xác định là một tập hợp năng lượng, và chính những năng lượng này kích thích sự hành động của chủ thể.
Thứ ba, tập hợp năng lượng này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến con người. Điều này lý giải tại sao con người lại thực hiện một hành động cụ thể nào đó. Họ sẽ tiếp tục thực hiện cho đến khi đạt được mục đích và khi không còn động lực họ sẽ dừng lại. 6 Tóm lại, có thể nói động lực là những gì thúc đẩy con người hành động kể cả trong lao động hay trong học tập, động lực chính là nguồn cảm hứng và sự thôi thúc để con người thực hiện và cố gắng hoàn thành một mục tiêu cụ thể nào đó, động lực chính là khởi nguồn cho các hành vi mang tính cá nhân.2 Động lực bên trong và bên ngoài: Các khái niệm phức tạp về động lực thường nhấn mạnh sự kích thích một cách trực tiếp đến các cá nhân: hoặc là một sự tự nỗ lực bên trong, hoặc là một sự khuyến khích từ môi trường bên ngoài Kinman & Kinman (2001).
Vậy động lực được chia làm 2 loại: động lực từ bên trong (nội tại) và động lực bên ngoài. Động lực bên trong là một hoạt động thỏa mãn mong muốn vốn có, cá nhân muốn làm việc để hiểu được khả năng của mình và tự quyết trong công việc, muốn có thử thách trong công việc (Deci năm 1975; Warr, Cook, & Wall năm 1979; Amabile năm 1993). Trong khi đó, động lực bên ngoài được thúc đẩy bởi tất cả những yếu tố bắt nguồn từ bên ngoài nhằm thúc đẩy cá nhân hành động và kích thích hiệu quả làm việc của cá nhân. Các yếu tố bên ngoài có thể là phần thưởng, khen thưởng, thời hạn hoàn thành công việc, các yêu cầu của công việc, sự thăng tiến, tiền lương, phản hồi công việc, hoạt động giám sát.3 Động lực học (learning motivation): Trước tiên, cần phải nói rằng hoạt động học tập suy cho cùng cũng chính là một hoạt động lao động, chỉ khác nhau khác về mặt hình thức.
Trên cơ sở này, có thể sử dụng các lý thuyết về động lực lao động trong việc nghiên cứu động lực học tập của sinh viên. Có rất nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về bản chất của động lực lao động: Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn… Định nghĩa chung nhất của động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức (Higgins, 2004). 7 Động lực lao động là những nhân tố bên trong thúc đẩy người lao động làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện là sự sẵn sàng say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu tổ chức cũng như bản thân người lao động (Tuấn, 2006).1: Mô hình 5 bậc nhu cầu của Maslow (Nguồn: Maslow, 1943) Theo thuyết Maslow thì khi mỗi một nhu cầu trong số những nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng và cần thiết.
Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên, từ thấp lên cao và mặc dù không có một nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn nhưng nếu một nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì về cơ bản nó sẽ không còn tạo động lực cho con người nữa". Vì thế theo Maslow để tạo động lực cho nhân viên người quản trị cần tìm hiểu xem nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống nhu cầu này và hướng sự thỏa mãn vào các nhu cầu có thứ bậc cao hơn. Thực chất động lực xuất phát từ nhu cầu của mỗi cá nhân, dù trong lao động hay giáo dục việc tạo và thúc đẩy động lực cho mỗi cá nhân là rất quan trọng. Maslow đã phân cấp nhu cầu của con người từ thấp đến cao, để tạo động lực cho người lao động, nhà quản lí cần phải biết họ đang nằm ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và phải hướng sự thỏa mãn vào nhu cầu đó.2 Các mô hình lý thuyết liên quan: 2.1 Thuyết hai nhân tố của Herzberg (Herzberg’s two-factor theory ) Hình 2.2: Thuyết hai nhân tố của Herzberg (Nguồn:Herzberg, 1959) Thuyết hai nhân tố của Herzberg cho rằng có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực của nhân viên tại nơi làm việc: là các nhân tố duy trì và các nhân tố thúc đẩy động viên.
Thuyết này được đề xuất bởi Frederick Herzberg - một nhà tâm lí học quan tâm đến mối tương quan giữa thái độ của nhân viên và động lực làm việc. Nhóm yếu tố duy trì thường là các yếu tố bên ngoài hoặc độc lập với công việc và chúng liên quan đến những thứ như: tiền lương thưởng, chính sách của doanh nghiệp, điều kiện làm việc, tính ổn định của công việc, năng lực và cách quản lý của lãnh đạo, các mối quan hệ xung quanh… Những nhân tố này không thúc đẩy nhân viên nhưng nếu yếu tố này không đầy đủ hoặc thiếu thì các nhân tố duy trì sẽ làm nhân viên cảm thấy không hài lòng. Nhóm thứ hai là nhóm nhân tố thúc đẩy, đây chính là nhân tố động viên. Chúng gắn liền với động lực làm việc của nhân viên và phát sinh từ các điều kiện nội tại của công việc.
Các yếu tố này có thể là trách nhiệm, sự công nhận, thành tích, sự thú vị trong công việc… Theo lý thuyết của Herzberg có 5 nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên: (1) thành tích, (2) sự công nhận, (3) bản thân công việc, (4) trách nhiệm, (5) sự tăng trưởng trong công việc. Như đã nói, hoạt động học tập suy cho cùng cũng là một hoạt động lao động, chỉ khác nhau về hình thức hoạt động với các hình thức lao động khác. Trên cơ sở đó, ta có thể sử dụng các 9 lý thuyết về động lực lao động trong việc nghiên cứu động lực học của sinh viên. Như vậy, lý thuyết hai nhân tố của Herzberg cũng cho thấy 5 nhân tố tác động đến động lực học tập: Đầu tiên là thành tích, đó là những kết quả học tập tốt đẹp do cố gắng đạt được.
Thứ hai là sự công nhận, đó là sự chấp nhận của xã hội, của trường học vào việc học tập của một cá nhân sinh viên. Thứ ba là việc tự học tập, đó là sự tự nguyện của bản thân trước một hoạt động nào đó để hoạt động đó diễn ra tốt nhất và có kết quả tốt nhất. Thứ tư là trách nhiệm, đó là những công việc cần làm để đảm bảo chức năng của vị trí đó không bị sai lệch đi, trách nhiệm hoàn thành các môn học và tiếp thu đầy đủ các kiến thức bắt buộc. Thứ năm là thăng tiến, đó là điều mà bất cứ ai cũng mong muốn đạt được sau khoảng thời gian dài cố gắng phấn đấu, hi sinh vì công việc, trong học tập sự thăng tiến được xem là đạt được kết quả học tập tốt hơn.2 Lý thuyết nhu cầu đạt được của Mc Clelland: Lý thuyết về nhu cầu của Mcclelland còn được gọi là lý thuyết ba nhu cầu, là một mô hình động lực giải thích nhu cầu của thành tích, quyền lực và sự liên kết ảnh hưởng đến hành động của mọi người như thế nào trong bối cảnh quản lý kinh doanh.
Thuyết nhu cầu đạt được của David Mcclelland đề xuất rằng: nhu cầu của một người là kết quả họ đạt được từ những trải nghiệm bản thân. Ông đã xác định ba động lực mà ông tin rằng tất cả chúng ta đều có: (1) nhu cầu về thành tích, (2) nhu cầu liên kết và (3) nhu cầu về quyền lực. Mỗi người sẽ có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu tại từng thời điểm. McClelland nói rằng, bất kể giới tính, văn hóa hay tuổi tác, tất cả chúng ta đều có ba động lực thúc đẩy, và một trong số đó sẽ là động lực chính chi phối chúng ta.
Động lực chính này phụ thuộc phần lớn vào văn hóa và kinh nghiệm sống. Điều này có nghĩa là mỗi người đều mong muốn đạt được thành tựu, quyền lực hoặc sự liên kết và trong ba nhu cầu đó, luôn có một nhu cầu thúc đẩy họ mạnh hơn hai nhu cầu còn lại. Nhu cầu thành tích: một người có nhu cầu thành tích thường mong muốn hoàn thành những mục tiêu có tính thách thức bằng nỗ lực của mình, thích thành công khi cạnh tranh và cần nhận được phản hồi về kết quả công việc của mình một cách rõ ràng. 10 Nhu cầu liên kết: mong muốn có mối quan hệ gần gũi và thân thiện với mọi người xung quanh.
Nhu cầu liên minh làm cho con người cố gắng vì tình bạn, thích hợp tác thay vì cạnh tranh, mong muốn xây dựng các mối quan hệ dựa trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau.