chương 1 cũng trình bày cơ sở phương pháp luận và một số khái niệm cơ bản làm cơ sở lý luận xây dựng các công cụ đo lường sự phát triển VHCL và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển VHCL trong Trường Đại học Quy Nhơn. Tổng quan các nghiên cứu liên quan Các quan niệm về chất lượng và văn hóa vốn rất đa chiều và có nội hàm rộng. Trong môi trường giáo dục, hai khái niệm này được nhận thức khác nhau tùy theo bối cảnh, tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu cụ thể của nhà trường nên văn hóa chất lượng trong trường đại học mang tính chất đặc trưng, riêng biệt. Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa chất lượng trong trường đại học.
Ở nước ngoài, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về văn hóa chất lượng và văn hóa chất lượng trong trường đại học. Điển hình: Đề cập và phân tích khái niệm, đặc điểm, bản chất, thành phần, cũng như các kiểu mô hình văn hóa chất lượng trong trường đại học có các tác giả: Lee Harvey và Bjorn Stensaker (2008)[43], Lee Harvey (2009a)[41], Lee Harvey (2009c)[42] đã phân tích khái niệm, đặc điểm và đưa ra 4 kiểu mô hình văn hóa chất lượng trong trường đại học như VHCL đáp ứng (responsive), VHCL phản ứng (reactive), VHCL phục hồi (regenarative) và VHCL sao nguyên bản (reproductive). Một số các tác giả khác như Ulf Daniel Ehlers (2009) [36], Dries Berings (2010) [34] đã phân tích các thành phần cơ bản và các mô hình khác nhau của văn hóa chất lượng trong giáo dục đại học. Woods (1998) – một học giả về lĩnh vực quản lý chất lượng, tư duy hệ thống và phát triển văn hóa tổ chức - đã nghiên cứu về sáu giá trị để xây dựng thành công 16 văn hóa chất lượng, bao gồm: (1) Chúng ta là những thực thể đồng lòng và thống nhất: công ty, những nhà cung cấp, khách hàng; (2) Không phân biệt địa vị, cấp bậc; (3) Cởi mở, đối thoại chân thành là điều tiên quyết; (4) Mọi người đều được tiếp cận thông tin khi họ cần; (5) Chú trọng vào các quá trình; (6) Không có thành công hay thất bại, mà chỉ có kinh nghiệm thu thập được.
Điều quan trọng của các giá trị này là ở những thay đổi trong hành vi đi kèm với các giá trị ấy.M (2008) - một học giả Hoa Kỳ - đã nghiên cứu VHCL trên nền tảng các yếu tố của văn hóa tổ chức như: Cải tiến công việc; Những giá trị của tổ chức; Những mô hình văn hóa; Những nghi thức, thói quen của tổ chức và Những tín hiệu văn hóa [30] để đưa ra khái niệm Văn hóa chất lượng trong trường đại học. Khái niệm này đã đư ợc sử dụng trong các chương trình giảng dạy cho sinh viên ở bậc đại học. Bên cạnh đó, Hiệp hội các trường đại học châu Âu (EUA) đã có d ự án nghiên cứu VHCL trong các trường đại học ở châu Âu với 3 vòng từ năm 2002 đến năm 2006 [37, 38, 39]. Mục tiêu chính của dự án là tăng cường nhận thức về sự cần thiết của việc xây dựng VHCL trong trường đại học và thúc đẩy quản lý chất lượng nhằm nâng cao chất lượng trong nhà trường; phổ biến rộng rãi cách thức tốt nhất để xây dựng VHCL trong nhà trường.
Ngoài ra, bàn về sự phát triển VHCL trong trường đại học có các tác giả Egle Katiliute và Bronius Neverauskas (2009) [44], Mantz Yorke (2000) [53], Inga Milisiunaite (2009) [48] với các quan điểm khác nhau về VHCL. Cụ thể, các tác giả Egle Katiliute và Bronius Neverauskas (2009) đề cập đến việc phát triển VHCL là tạo dựng và phát triển các giá trị và niềm tin nuôi dưỡng hành vi quản lý chất lượng tổng thể (TQM). Trong khi đó, Mantz Yorke (2000) bàn về sự phát triển VHCL là định hướng vào nhu cầu của các bên liên quan và các cơ chế nội bộ hỗ trợ hiệu quả cho CBNV hoàn thành nhiệm vụ nhằm đạt được sự đồng thuận trong tổ chức đối với chất lượng và liên tục cải tiến chất lượng. Bên cạnh đó, tác giả Inga Milisiunaite (2009) cho rằng, phát triển 17 VHCL trong trường đại học là cam kết phát triển một nền văn hóa công nhận sự quan trọng của chất lượng và đảm bảo chất lượng trong công việc.
Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa chất lượng của các tác giả như: Wong Foong Lai (1997)[46] đã nghiên cứu VHCL của khoa Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Malaysia nhằm đánh giá mức độ VHCL trong tổ chức thể hiện qua mức độ nhận thức, hiểu và thực hiện các giá trị chất lượng của CBNV. Trong mô hình nghiên cứu này, VHCL bao gồm 12 yếu tố: (1) Tập trung vào khách hàng; (2) Chất lượng thông qua việc ngăn ngừa; (3) Không mắc khuyết điểm; (4) Nhấn mạnh quá trình; (5) Khả năng lãnh đ ạo chất lượng; (6) Đào tạo; (7) Tiến hành đổi mới; (8) Có sự tham gia của nhân viên; (9) Làm việc nhóm; (10) Ghi nhận sự nỗ lực; (11) Đo lường hiệu suất và (12) Cải tiến liên tục. Trong đó, cốt lõi của VHCL là sự hài lòng của khách hàng và phúc lợi của nhân viên. Nghiên cứu của Pariyaporn Tungkunanan và các cộng sự (2008)[49], đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chiến lược VHCL của Trường dạy nghề Eastern, thuộc Văn phòng Ủy ban Giáo dục nghề nghiệp (Eastern School of The Office of Vocational Education Commission), Thái Lan.
Nghiên cứu đã đưa ra 9 yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển VHCL bao gồm: (1) Kế hoạch chiến lược; (2) Làm việc nhóm; (3) Lãnh đạo quản lý (Manager leadership); (4) Không ngừng tự phát triển; (5) Liên tục cải tiến; (6) Quản lý bằng thực tế (Management by fact); (7) Chăm sóc khách hàng; (8) Cam kết của tổ chức; và (9) Phân quyền. Theo lý thuyết trên, việc thực hiện VHCL sẽ tạo ra sự phát triển liên tục. Đồng thời, việc quản lý và lập kế hoạch tốt sẽ tạo ra một nền VHCL tốt. Nghiên cứu của Hairuddin Mohd Ali và Mohammed Borhandden Musah (2012) [31], đã khảo sát trên 267 giảng viên của trường Đại học Hồi giáo quốc tế Malaysia để xem xét các thuộc tính tâm lý và mối quan hệ giữa VHCL và hiệu suất làm việc của CBNV.
Theo đó, VHCL bao gồm 10 yếu tố 18 nền tảng với các giá trị đặc trưng là: cải tiến chất lượng; làm việc nhóm; tập trung khách hàng; lập kế hoạch chiến lược cho chất lượng; công nhận; sự hỗ trợ của lãnh đạo cho chất lượng; đo lường và phân tích; trao quyền và tham gia; đào tạo về chất lượng và ĐBCL. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng VHCL quyết định mạnh mẽ đến chất lượng giảng dạy; Bản chất và cấu trúc của VHCL trong trường đại học gắn liền với những sáng kiến liên quan đến chất lượng; VHCL có thể làm tăng hiệu quả giảng dạy và cải tiến hiệu suất lao động thông qua thực hiện quản lý chất lượng; VHCL có thể được sử dụng như một công cụ hiệu quả để khuyến khích nhân viên tại các trường đại học tham gia vào các hoạt động giảng dạy sáng tạo và hiệu quả phù hợp với nền tảng chuyên môn của họ. Nhìn chung, ở nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực VHCL trong trường đại học. Phần lớn các nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa, các thành tố, các giá trị VHCL cũng như cách thức xây dựng và phát triển VHCL trong trường đại học.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đưa ra chỉ số đánh giá sự phát triển của VHCL trong trường đại học. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng và phát triển VHCL trong các cơ sở giáo dục đại học đã được các nhà quản lý giáo dục quan tâm trong những năm gần đây và đã được xác định là “một nhiệm vụ, một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”[13]. Tuy nhiên, vấn đề VHCL trong trường đại học vẫn còn là khái niệm chưa được hiểu rõ, còn gây nhiều tranh cãi và chưa có nhiều nghiên cứu mặc dù vấn đề này đã đư ợc các tác giả trong nước quan tâm, thảo luận nhiều qua các cuộc hội thảo, hội nghị về VHCL trong trường đại học. Vấn đề văn hóa chất lượng trong trường đại học đã được các nhà nghiên cứu đưa ra với nhiều khía cạnh khác nhau.
Điển hình: Nêu lên tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển VHCL trong bối cảnh môi trường GDĐH có nhiều biến đổi như hiện nay, tác giả Lê Đức Ngọc (2008) cho rằng “mọi tổ chức muốn tồn tại và phát triển bền vững thì mọi 19 hoạt động của nó đều phải hướng về chất lượng và xây dựng cho được văn hóa chất lượng trong tổ chức của mình”. Theo đó, văn hóa chất lượng của một cơ sở đào tạo được hiểu là: mọi thành viên (từ người học đến cán bộ quản lý), mọi tổ chức (từ các phòng, ban đến các tổ chức đoàn thể) đều biết công việc của mình thế nào là có chất lượng và đều làm theo yêu cầu chất lượng ấy.[18] Quan niệm VHCL gắn với niềm tin, giá trị và quan điểm hơn là kiến thức, nghiên cứu thực tiễn hay phân tích các qui trình chất lượng, theo các tác giả Nguyễn Kim Dung và Huỳnh Xuân Nhựt (2009) để hiểu và xây dựng văn hóa chất lượng, cần phải tác động không chỉ đến hiểu biết, qui định/tổ chức và các biện pháp quản lý mà còn đ ến quan điểm, niềm tin về các giá trị của những người cùng tham gia trong tổ chức. Ngoài ra, muốn hiểu được khái niệm VHCL cũng cần đặt tổ chức/thể chế/cơ sở đào tạo đó trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định trong quá trình VHCL được hình thành và phát triển.[10] Các quan niệm về VHCL cũng như sự liên quan của khái niệm này đến các công tác khác trong một tổng thể chung của trường đại học đã được tác giả Nguyễn Phương Nga (2011) báo cáo tại Hội thảo Đảm bảo chất lượng tại trường Đại học Cần Thơ. Theo đó, tác giả khẳng định VHCL chính là một nét văn hóa của tổ chức và là một bộ phận cấu thành của ĐBCL.
Sự phát triển của bộ phận này như thế nào phụ thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động ĐBCL trong trường đại học. [16] Cũng đ ề cập đến VHCL như một nét văn hoá của tổ chức nhưng với định nghĩa “chất lượng là sự xuất sắc”.