Luận án tiến sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp trường hợp nghiên cứu tại khu vực bắc trung bộ

Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp trường hợp nghiên cứu, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN GIỚI THIỆU

1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG

1.1.1. Tổng quan nghiên cứu về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

1.1.2. Tổng quan nghiên cứu về sự hợp tác trong chuỗi cung ứng

1.1.3. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng

1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG

1.2.1. Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

1.2.1.1. Chuỗi cung ứng
1.2.1.2. Quản trị chuỗi cung ứng (SCM)

1.2.2. Hợp tác chuỗi cung ứng

1.2.2.1. Khái niệm về hợp tác chuỗi cung ứng
1.2.2.2. Đánh giá hợp tác trong chuỗi cung ứng
1.2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng

1.2.3. Cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu

1.2.3.1. Cơ sở lý thuyết của mô hình nghiên cứu
1.2.3.2. Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu

1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1. Phương pháp luận nghiên cứu

1.3.2. Quy trình nghiên cứu

1.3.3. Thiết kế bảng hỏi

1.3.4. Phương pháp nghiên cứu định tính

1.3.5. Phương pháp nghiên cứu định lượng

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ

4.1. Thực trạng về sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ

4.1.1. Thực trạng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ

4.1.2. Thực trạng về sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ

4.2. Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ

4.2.1. Thống kê mô tả dữ liệu

4.2.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo

4.2.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.2.4. Phân tích nhân tố khẳng định CFA

4.2.5. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

4.2.6. Kiểm định ANOVA và T-Test

5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.2. Đề xuất giải pháp tăng cường sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ

5.2.1. Tiềm năng phát triển ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ

5.2.2. Đề xuất giải pháp tăng cường sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực Bắc Trung Bộ

5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hợp tác chuỗi cung ứng nông nghiệp

Hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất và cạnh tranh. Hợp tác chuỗi cung ứng không chỉ giúp các bên tham gia tối ưu hóa quy trình sản xuất mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm nông sản. Trong bối cảnh nông nghiệp Bắc Trung Bộ, việc xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa các hộ nông dân và doanh nghiệp là cần thiết. Theo nghiên cứu của Wang và cộng sự (2014), sự hợp tác này không chỉ nâng cao chất lượng nông sản mà còn giúp nông dân tiếp cận thông tin và giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều nông dân vẫn hoài nghi về lợi ích của việc tham gia vào hợp tác nông nghiệp. Sự thiếu niềm tin và cam kết giữa các bên là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hợp tác lỏng lẻo trong chuỗi cung ứng nông sản.

1.1. Tình hình hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp

Tình hình hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp tại Bắc Trung Bộ hiện nay còn nhiều hạn chế. Mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp chủ yếu dựa trên giao dịch ngắn hạn, thiếu sự cam kết lâu dài. Theo Hồ Quế Hậu (2013), tỷ lệ nông dân không thực hiện đúng hợp đồng lên đến 11,8%. Điều này cho thấy sự thiếu hụt trong quản lý chuỗi cung ứng và cần có các giải pháp để cải thiện tình hình. Việc xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững giữa các bên là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro trong chuỗi cung ứng nông sản.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hợp tác chuỗi cung ứng

Nghiên cứu đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp. Yếu tố ảnh hưởng chính bao gồm niềm tin, cam kết, và chia sẻ thông tin. Niềm tin giữa các bên là yếu tố cốt lõi để xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững. Theo Morgan và Hunt (1994), niềm tin và cam kết là những tiền đề trung tâm của sự hợp tác. Bên cạnh đó, việc chia sẻ thông tin cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sự hợp tác. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc chia sẻ thông tin có thể giúp các bên hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của nhau, từ đó tạo ra sự đồng thuận trong các quyết định.

2.1. Niềm tin và cam kết

Niềm tin và cam kết giữa các bên trong chuỗi cung ứng nông nghiệp là yếu tố quyết định đến sự thành công của hợp tác. Thiếu niềm tin có thể dẫn đến việc các bên không thực hiện đúng cam kết, gây ra tình trạng vi phạm hợp đồng. Theo nghiên cứu của Kwon và Suh (2004), niềm tin là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ hợp tác. Khi các bên có niềm tin vào nhau, họ sẽ dễ dàng chia sẻ thông tin và tài nguyên, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng.

2.2. Chia sẻ thông tin

Chia sẻ thông tin là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng. Việc chia sẻ thông tin giúp các bên có cái nhìn rõ hơn về tình hình thị trường, nhu cầu của khách hàng và khả năng cung ứng. Nghiên cứu của Cao và Zhang (2011) cho thấy rằng chia sẻ thông tin có thể làm tăng hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng việc chia sẻ thông tin giữa các bên trong chuỗi cung ứng nông nghiệp tại Bắc Trung Bộ còn hạn chế, dẫn đến sự thiếu hụt trong việc phối hợp và hợp tác.

III. Đề xuất giải pháp tăng cường hợp tác

Để tăng cường sự hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp tại Bắc Trung Bộ, cần có các giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần xây dựng các chương trình đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về lợi ích của hợp tác cho nông dân và doanh nghiệp. Thứ hai, cần thiết lập các cơ chế hỗ trợ để khuyến khích việc chia sẻ thông tin giữa các bên. Cuối cùng, cần có sự can thiệp của chính sách từ nhà nước để tạo ra môi trường thuận lợi cho sự hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp. Chính sách nông nghiệp cần tập trung vào việc xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững giữa các bên trong chuỗi cung ứng.

3.1. Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo cho nông dân và doanh nghiệp về lợi ích của hợp tác trong chuỗi cung ứng là rất cần thiết. Các khóa học có thể tập trung vào việc nâng cao kỹ năng quản lý, chia sẻ thông tin và xây dựng niềm tin. Việc này không chỉ giúp nông dân hiểu rõ hơn về lợi ích của việc tham gia vào chuỗi cung ứng mà còn giúp doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của việc hợp tác với nông dân.

3.2. Chính sách hỗ trợ

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ để khuyến khích sự hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp. Các chính sách này có thể bao gồm việc cung cấp các khoản vay ưu đãi cho nông dân khi tham gia vào hợp tác, hoặc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng mối quan hệ hợp tác với nông dân. Điều này sẽ tạo ra động lực cho các bên tham gia vào chuỗi cung ứng, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và cạnh tranh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một khái niệm ngày càng phổ biến và được quan tâm ở Việt Nam, mặc dù xuất hiện muộn hơn so với thế giới. Nhiều nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm đã được thực hiện. Khái niệm chuỗi cung ứng được xây dựng dựa trên nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều mô hình khác nhau, chẳng hạn trong lĩnh vực logistic (Carter và cộng sự, 1993); phân phối sản phẩm (Cavinato và cộng sự,1992).

Phổ biến nhất, chuỗi cung ứng được coi là sự liên kết giữa các khâu từ cung ứng, sản xuất đến tiêu dùng (Lambert và cộng sự, 1998; Mentzer và cộng sự, 2001) hay các dòng chảy hàng hóa từ nhà cung cấp thông qua nhà sản xuất và nhà phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng (Novak và Simco,1991). Trong thực tế, mặc dù có một số nghiên cứu tập trung vào bối cảnh chuỗi cung ứng, hầu hết các nghiên cứu hiện có chỉ thiên về đánh giá một mắt xích cụ thể của chuỗi, hoặc là chỉ tập trung vào một thành phần trong vấn đề hiệu suất chuỗi cung ứng nói chung. Một số nghiên cứu đồng nhất khái niệm và nội dung của thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng và thuật ngữ chuỗi cung ứng (Ganeshan và Harrison, 1995; Lee & Corey, 1992). Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng SCM được đưa ra vào cuối những năm 1980 và được sử dụng rộng rãi vào những năm 1990.

Trước thời điểm đó, các doanh nghiệp đã sử dụng thuật ngữ hậu cần (logistics) và quản trị nghiệp vụ (operation management) để thay thế. Khái niệm SCM được đưa ra vào đầu những năm 1980 bởi các nhà tư vấn trong lĩnh vực hậu cần (Oliver và Webber, 1992). Các tác giả nhấn mạnh rằng chuỗi cung ứng phải được xem như một thực thể duy nhất và việc ra quyết định chiến lược ở cấp cao nhất là cần thiết để quản trị chuỗi theo công thức ban đầu của chúng. Quan điểm này được chia sẻ với các nhà hậu cần cũng như các nhà lý thuyết kênh trong marketing (Gripsrud, 2006).

SCM đã trở thành một trong những khái niệm phổ biến nhất trong quản trị nói chung kể từ khi được giới thiệu (Oliver và Webber, 1992; La Londe, 1997). Một số tác giả đã xem SCM theo thuật ngữ hoạt động liên quan đến dòng chảy nguyên liệu và sản phẩm, một số xem nó như một triết lý quản lý, một số xem nó theo nghĩa của một quá trình quản lý (Tyndall và cộng sự, 1998). SCM bao gồm các khía cạnh khác nhau, từ hậu cần và vận chuyển, quản trị hoạt động, nguyên vật liệu và quản lý phân phối, tiếp thị, cũng như mua bán hàng và công luan an 11 nghệ thông tin (Chen và Paulraj, 2004). Bằng sự tổng hợp các nghiên cứu trước đó của mình, Mentzer đã gợi ý các hoạt động khác nhau cần thiết để thực hiện thành công một triết lý quản trị chuỗi cung ứng bao gồm: hành vi đồng nhất, chia sẻ thông tin, chia sẻ rủi ro và phần thưởng, sự hợp tác, có cùng mục tiêu và cùng tập trung phục vụ khách hàng, thống nhất các quá trình (Mentzer và cộng sự, 2001).

Về nội dung nghiên cứu, theo Carter và Ellram (2003), các nghiên cứu về SCM tập trung vào các chủ đề nghiên cứu chính như sau: chiến lược của SCM; khung thực hiện SCM, xu hướng và thách thức của SCM; các mối quan hệ và liên kết trong SCM; thương mại điện tử và mạng lưới toàn cầu; các chiến lược về thời gian trong SCM; ứng dụng máy tính và trao đổi dữ liệu điện tử; chất lượng của SCM; phát triển, lựa chọn và quản lý nhà cung cấp trong SCM; thuê ngoài sản xuất; trách nhiệm xã hội và trách nhiệm về môi trường; khái niệm về chuỗi cung ứng quốc tế và toàn cầu; hành vi người tiêu dùng; vận tải và hậu cần; quản trị nguồn nhân lực; lập kế hoạch về nhu cầu nguyên vật liệu MRP và các vấn đề liên quan đến pháp luật. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tổng hợp của các tác giả này từ các nghiên cứu trước năm 2003. Cùng với thời gian, các nghiên cứu về SCM ngày càng được mở rộng và đa dạng với nhiều nội dung, góc độ tiếp cận, bối cảnh và lĩnh vực nghiên cứu. Theo Jinesh và cộng sự (2010), có thể chia ra 6 giai đoạn chính trong lịch sử của các nghiên cứu quản lý chuỗi cung ứng bao gồm giai đoạn tạo dựng, tích hợp, toàn cầu hóa, giai đoạn chuyên môn hóa lần 1 và lần 2, và giai đoạn quản trị chuỗi cung ứng 2.

Sáu giai đoạn này mô tả chiến lược trọng tâm của quản trị chuỗi cung ứng trong mỗi thời kỳ nghiên cứu. Ví dụ trong giai đoạn thứ 6, công nghệ thông tin là vấn đề được ưu tiên và chuỗi cung ứng áp dụng công nghệ thông tin là chủ đề trọng tâm nghiên cứu. Về nghiên cứu SCM trong nông nghiệp, nghiên cứu lý thuyết của Ganeshkumar và cộng sự (2017) trên cơ sở nghiên cứu tài liệu về quản trị chuỗi cung ứng nông sản. Nghiên cứu này đã xác định những lỗ hổng cần khám phá về thực hành quản trị chuỗi cung ứng nông sản có thể được các nhà nghiên cứu sử dụng để làm phong phú thêm việc xây dựng lý thuyết và các nhà thực hành có thể tập trung vào việc thiết lập phạm vi và biên giới của SCM nông sản thực phẩm.

Công trình nghiên cứu này là nỗ lực nhằm thực hiện một đánh giá, phê bình về các tài liệu hiện có về thực hành SCM thực phẩm nông nghiệp cho các nước đang phát triển như Ấn Độ. Các bài báo nghiên cứu và các tài liệu khác liên quan đến SCM nông sản thực phẩm được thu thập từ các cơ sở dữ liệu trực tuyến như Scopus, Ebsco Business Source Elite và Google Scholar trong thời gian 10 năm (2006-2016). Nghiên cứu thực hiện phân tích nội dung và sau đó là luan an 12 phân tích mô tả. Cuối cùng, chuỗi cung ứng khoai tây của Ấn Độ được coi là một ví dụ điển hình để phân tích toàn diện và chi tiết.

Nghiên cứu đã xác định những lỗ hổng và vấn đề trong thực hành SCM nông nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng các nhà nông nghiệp Ấn Độ phải chịu đựng nghiêm trọng các rủi ro sau: khả năng thương lượng kém của nông dân, đặt họ dưới lòng thương xót của những thương nhân ích kỷ, những người luôn luôn bóc lột họ đến tận cốt lõi, đất đai manh mún, thặng dư thị trường rất ít, chi phí trồng trọt và sản xuất đắt cắt cổ, khu vực phi chính thức chi phối quá trình tiếp thị nông sản, chuỗi cung ứng nông sản manh mún, cơ sở hạ tầng tiếp thị kém đối với nông sản bị đình trệ, điều kiện thị trường không hoàn hảo đối với hàng hóa nông sản, nông sản thất thoát ồ ạt đến 30% - 60% do kho bãi chưa hiệu quả, tính chất dễ hư hỏng nhanh chóng của hàng hóa có giá trị cao, không có bao bì, nhãn hiệu và chứng nhận hiệu quả, thiếu thông tin thị trường đầy đủ về lợi nhuận thu được từ việc canh tác các loại cây trồng cụ thể, khả năng đàm phán giá kém có nghĩa là nông dân không có khả năng nhận được phần giá trị xứng đáng mà người bán trả cho sản phẩm của họ, tăng thành phần rủi ro lên mức 60% -70%, tương ứng với quá trình sản xuất và tiếp thị nông nghiệp, năng suất thấp dẫn đến lượng sản lượng bị cắt giảm, khó khăn trong việc tiếp cận tài chính, đặc biệt là vốn lưu động; thiếu thông tin sẵn có khiến nông dân không có khả năng tuân thủ các vấn đề an ninh lương thực; không có sẵn bí quyết sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, sự thiếu thành thạo của một bộ phận nông dân trong việc quản lý tài sản, khiến họ không có khả năng thực hiện các sửa đổi danh mục đầu tư phù hợp trong quá trình sản xuất, thiếu công nghệ kỹ thuật phức tạp làm giảm việc sử dụng công suất, dẫn đến tăng sản lượng từ đầu vào một cách ít ỏi, sử dụng quá nhiều phân bón hóa học làm hủy hoại độ phì nhiêu của đất, chất lượng nông sản (Septiani và cộng sự, 2016). Nghiên cứu này là một gợi ý tốt cho bối cảnh Việt Nam, hẹp hơn là khu vực Bắc Trung Bộ với nhiều nét tương đồng, nhất là về mặt thực tiễn. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết chưa có nhiều nghiên cứu sâu về vấn đề này ở Việt Nam.

Nhìn chung các nghiên cứu về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng đã được thực hiện rất đa dạng và phong phú. Nó cung cấp một nền tảng lý luận rất rộng về nhiều khía cạnh của SCM như bản chất, vai trò, nội dung hoạt động, mô hình, các yếu tố ảnh hưởng, hiệu suất của SCM… Tuy nhiên, Luận án này chỉ đề cập trực tiếp đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng trong bối cảnh khu vực Bắc Trung Bộ để từ đó có những đóng góp về mặt thực tiễn cho phát triển chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp khu vực này.2 Tổng quan nghiên cứu về sự hợp tác trong chuỗi cung ứng Trong xu thế hiện nay, các tổ chức sản xuất nhận ra rằng để đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh, họ phải cung cấp được các giá trị cho khách hàng tốt nhất ở mức chi phí thấp nhất có thể. Khách hàng ngày càng trở nên khắt khe với thời gian đáp ứng nhanh hơn, thời gian chu kỳ sản phẩm ngắn hơn, sản phẩm và dịch vụ tùy biến. Do vòng đời sản phẩm thu hẹp và cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng, kiến thức của các tổ chức kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc phát triển sản phẩm mới.

Các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội hợp tác với các đối tác bên ngoài trong chuỗi cung ứng để đảm bảo hiệu quả và khả năng đáp ứng của chuỗi cung ứng, để tận dụng các nguồn lực và kiến thức của các nhà cung cấp và khách hàng của họ (Cao và Zhang, 2011). Việc hợp tác này dẫn đến quá trình phát triển sản phẩm nhanh hơn, giảm chi phí phát triển, mức độ cải tiến công nghệ mạnh hơn và việc nâng cao chất lượng sản phẩm (Walter, 2003). Các đối tác trong chuỗi cung ứng có nhu cầu ngày càng lớn với việc tăng thêm các giá trị cho khách hàng thông qua hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp. Mục tiêu kinh doanh dường như khó đạt được bởi riêng lẻ từng tổ chức, nhưng có thể dễ dàng đạt được thông qua các mối quan hệ trong hợp tác chuỗi cung ứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp tại Bắc Trung Bộ" của tác giả Trần Văn Hào, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trương Đức Lực và TS. Lê Thái Phong, tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng nông nghiệp tại khu vực Bắc Trung Bộ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác trong ngành nông nghiệp, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và quản lý chuỗi cung ứng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: