Chương 1 của bài luận gồm 5 chương và dự kiến và bố cục chi tiết dự kiến theo từng chương. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương 2 nêu các định nghĩa, đặc điểm và chức năng về TTCK Việt Nam, định nghĩa sơ lược về cổ phiếu và các cụm từ liên quan đến nó, tổng hợp các mô hình lý thuyết liên quan đến giá cổ phiếu mà tác giả hàm ý chính sách rút ra từ các bài nghiên cứu và bài báo trước đó. Cuối cùng là lược khảo các nghiên cứu liên quan trước đây mà tác giả tìm hiểu được.1 NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 2.1 Cổ phiếu Cổ phiếu được phát hành bởi doanh nghiệp cổ phần đại chúng hoặc do cổ đông doanh nghiệp. Cũng như chứng khoán, cổ phiếu được phát hành dưới dạng bút toán ghi sổ hoặc chứng chỉ, đây là phương pháp xác nhận quyền sở hữu và lợi ích của tài sản tài chính hoặc vốn của một tổ chức phát hành.
Theo quy định của Luật Chứng khoán 2019 của Việt Nam, điều 4 khoản 2: cổ phiếu xác định quyền và xác định ưu thế theo pháp luật của chủ sở hữu với một phần vốn cổ phần của chủ thể phát hành. Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông): Là loại cổ phiếu có thu nhập hầu như nhờ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Người sở hữu cổ phiếu này là chủ sở hữu của doanh nghiệp đó, được quyền tham gia họp hội đồng quản trị và bỏ phiếu các quyết định quan trọng của công ty. Cổ phiếu ưu đãi: Người sở hữu loại cổ phiếu này sẽ là cổ đông chính thức và được hưởng ưu đãi của công ty như: ưu tiên quyền biểu quyết và cổ tức hơn.
Đối với doanh nghiệp mới thành lập, mệnh giá là giá trị tối thiểu mà doanh nghiệp nhận được cho mỗi cổ phần phát hành. Mệnh giá có ý nghĩa khi dùng để xác định giá trị trong lần huy động vốn đầu tiên của doanh nghiệp hoặc trong việc ghi sổ kế toán. Giá thị trường của cổ phiếu Có nhiều cách giải thích về giá cổ phiếu, và nhiều thuật ngữ liên quan đến nó. Giá cổ phiếu là mức giá cổ phiếu ở một thời điểm nhất định.
Nhà đầu tư cần chi 9 ra số tiền đó để mua một đơn vị cổ phiếu tại thời điểm giao dịch trên thị trường. Trong tiếng anh gọi là "Stock price”. Đây là giá trị mua bán được thực hiện thông qua các giao dịch thị trường. Người chơi thực hiện lệnh mua bán dựa trên giá cổ phiếu để nắm bắt cơ hội sinh lời, tạo ra lợi nhuận.
Có hai loại giá thị trường là giá mở cửa và giá đóng cửa. Trong đó, giá đóng cửa thực hiện tại lần khớp lệnh cuối cùng trong ngày giao dịch và giá đóng cửa là giá giao dịch ngày hôm trước. Vậy nên tác giả lựa chọn giá đóng cửa làm giá trị tham chiếu trong việc xác định giá thị trường trung bình của cổ phiếu trong từng năm.2 Chỉ số giá cổ phiếu Theo Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013), “Chỉ số TTCK mang ý nghĩa thống kê thể hiện thị trường cổ phiếu đang diễn ra như thế nào. Chỉ số này được đúc kết từ các danh mục cổ phiếu theo một phương pháp cụ thể.
Danh mục của cổ phiếu thường có chung những đặc điểm như cùng đưa lên sàn chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoáng, cùng mức vốn hóa thị trường, hoặc cùng ngành.” Bùi Kim Yến (2006) cho rằng “Chỉ số giá chứng khoán chỉ thể hiện giá cổ phiếu phản ánh xu thế thị trường tăng trưởng và tình hình giao dịch của thị trường”. Theo Tổng cục Thống kê “Chỉ số giá chứng khoán thể hiện tương đối (bằng điểm), bằng sự quan hệ so sánh giữa giá cổ phiếu bình quân của kỳ nghiên cứu với kỳ gốc đã chọn (thường là 100 hoặc 1000). Chỉ số chứng khoán được cấu thành bởi 2 yếu tố là loại chứng khoán và giá từng chứng khoán cấu thành.” Vậy nên, chỉ số giá chứng khoán cho thấy rõ sự thay đổi về giá cổ phiếu trên TTCK ở thời điểm so sánh so với thời điểm gốc. Chỉ số này được công bố rõ ràng, nhanh chóng trên các sàn giao dịch chứng khoán và trên các phương tiện truyền thông, nhà đầu tư có thể dễ dàng hiểu được để vận dụng và phân tích đánh giá một cách dễ dàng hơn được.1 Phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu x Phương pháp Passcher 10 Phương pháp này được vận dụng phổ biến nhất và là chỉ số bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết kỳ tính toán.
σୀଵ ሺݍ௧ ൈ ݍ௧ ሻ ܫ ൌ σୀଵ ሺݍ௧ ൈ ݍ ሻ Trong đó, ܫ là chỉ số giá Passcher, ௧ là giá tại thời kỳ t, : giá tại thời kỳ đầu, ݍ௧ là khối lượng (quyền số) thời kỳ tính toán (t) hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm đó, i là số cổ phiếu i tham gia tính toán và n là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số. Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền, lấy quyền số là thời kỳ tính toán vậy nên kết quả tính toán sẽ phụ thuộc vào nó. Các chỉ số TOPIX (Nhật), S&P500 (Mỹ), TSE (Đài Loan) và VNIndex của Việt Nam đã áp dụng phương pháp này để tính toán chỉ số giá cổ phiếu. x Phương pháp Laspeyres Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị.
Trong đó, quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Vậy nên kết quả sẽ ảnh hưởng theo cơ cấu quyền số thời kỳ gốc. σୀଵ ሺݍ ൈ ݍ௧ ሻ ܫ ൌ σୀଵ ሺݍ ൈ ݍ ሻ Trong đó, ܫ là chỉ số giá bình quân Laspeyres, ௧ là giá tại thời kỳ t, : giá tại thời kỳ đầu, ݍ là khối lượng (quyền số) thời kỳ đầu hoặc là số lượng cổ phiếu niêm yết thời kỳ đầu, i là số cổ phiếu i tham gia vào tính chỉ số và n là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số. Phương pháp này chưa được nhiều quốc gia sử dụng đến, có thể tham khảo chỉ số FAZ, DAX của Đức.
x Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher Chỉ số bình quân Fisher là bình quân nhân giữa hai chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspeyres. Phương pháp này chú trọng vào sự thay đổi giá của từng cổ phiếu 11 trong rổ và thực hiện điều chỉnh chúng để tránh ảnh hưởng của sự tăng trưởng và sự suy giảm của số lượng cổ phiếu trên thị trường. ܫி ൌ ඥܫ ܫݔ Trong đó, ܫி là chỉ số giá Fisher, ܫ là chỉ số giá Passcher, ܫ là chỉ số giá bình quân Laspeyres. Hiện nay theo tác giả ghi nhận mới có chỉ số Euro Stoxx 50 (Châu Âu) áp dụng phương pháp này để tính toán.
x Phương pháp số bình quân đơn giản Phương pháp này sử dụng tổng thị giá chứng khoán chia cho số chứng khoán đang nghiên cứu. σୀଵ ܫ ൌ ݊ Trong đó, ܫ là giá bình quân, là giá chứng khoán I và n là số chứng khoán tham gia nghiên cứu. Các chỉ số Dow Jone (Mỹ), Nikkei 225 (Nhật Bản), MBI (Ý) đã áp dụng tính chỉ số giá cổ phiếu bằng cách thức này. Khi giá các cổ phiếu tham gia phải đồng đều hoặc độ lệch chuẩn thấp thì dùng phương pháp này mới phù hợp.
x Phương pháp bình quân nhân đơn giản ࡵ ൌ ඥς Trong đó, ܫ là giá bình quân và là giá chứng khoán i Phương pháp này áp dụng khi giá các cổ phiếu tham gia có độ lệch chuẩn khá cao. Các chỉ số đã áp dụng phương pháp bình quân nhân đơn giản này gồm có: Value line của Mỹ và FTSE 30 của Anh.3 Mô hình lý thuyết 2.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Theory) Eugene Fama đưa ra giả thuyết này lần đầu tiên vào năm 1970. Ông cho rằng“thị trường mà tại đó giá luôn phản ánh những thông tin sẵn có, được gọi là thị trường hiệu quả. Giả thuyết đặt ra rằng thị trường tài chính hoạt động một cách rõ ràng, minh bạch.
Diễn biến giá chứng khoán đã phản ảnh tất cả thông tin công bố về chứng khoán đó tại cùng một thời điểm.”Trong nghiên cứu này, lý thuyết thị trường 12 hiệu quả gồm có 3 dạng chính: dạng yếu (weak form), dạng trung bình (semi-strong form) và dạng mạnh (strong form). Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu: Dựa theo dạng giả thuyết này thì cho rằng giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ thông tin thông cáo trong quá khứ, cho nên các chiến lược đầu tư như động lượng hay bất kỳ quy tắc dựa trên phân tích kỹ thuật đều không hiệu quả và không đạt lợi nhuận trên thị trường bình thường được. Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình: Giá chứng khoán chịu tác động của thông tin đã được công bố và cả thông tin vừa công bố. Tức là giá cổ phiếu phản ứng tức thời đối với thông tin.
Nhà đầu tư không có cơ hội để mua cổ phiếu ở mức giá thấp và bán với mức giá cao từ những thông tin trên thị trường. Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh: Tại một thời điểm xác định, giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin có thể tác động đến giá, bao gồm thông tin trong quá khứ, hiện tại và cả thông tin nội bộ trong doanh nghiệp. Giả thuyết này càng khẳng định về tính hiệu quả của thị trường tài chính.2 Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling Theory) Bharracharya (1979), Aharony và Swaly (1980), Asquith và Mullins (1983) cho rằng việc công bố thông tin về giá cổ phiếu của ban quản trị doanh nghiệp là có mục đích và có ảnh hưởng nhất định đến giá cổ phiếu doanh nghiệp đó. Nhà đầu tư tất nhiên không thể nắm rõ thông tin doanh nghiệp nhiều hơn ban quản trị nên vấn đề này làm dẫn đến mất cân bằng thông tin.
Theo lý thuyết cho rằng cổ tức mang tín hiệu truyền tải thông tin đến nhà đầu tư.3 Lý thuyết Miller và Modigliani (1996) (M-M Theory) Lý thuyết Miller và Modigliani (1996) hay còn gọi là lý thuyết M-M đã đưa ra các giả định về thị trường vốn là cạnh tranh hoàn hảo. Lý thuyết này cho rằng “Chính sách cổ tức của doanh nghiệp là độc lập, không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.” Lý thuyết M-M dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả, những hành động và quyết định của nhà đầu tư là hợp lý, bảo đảm mang về nguồn lợi nhuận tương lai được tạo ra. Lý thuyết này dựa trên giả định thị 13 trường vốn hoàn hảo, hành động của nhà đầu tư là hợp lý và chắc chắn mang về nguồn lợi nhuận trong tương lai.