chương 1, tác giả nêu ra lý do chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh”, trình bày mục tiêu cụ thể và mục tiêu tổng quát của nghiên cứu, đưa ra các câu hỏi và phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa và cấu trúc các chương của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các khái niệm cơ bản 2. Động lực Động lực là yếu tố giúp con người tích cực làm việc hơn trong mọi điều kiện giới hạn của bản thân để có thể tạo ra những thành quả, năng suất mà bản thân mong muốn (Bedeian, 1993). Động lực biểu thị ra hành vi nghiên cứu chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố và khi bản thân đề ra mục tiêu và mong muốn đạt được thì động lực sẽ nảy sinh trong con người mọi chúng ta, nó như liều thuốc tinh thần giúp cho bản thân vượt qua mỗi khó khăn, rào cản và đạt được điều mong muốn; ngược lại nếu bản thân không muốn làm công việc hoặc điều gì đó thì động lực trong con người sẽ mất đi (Nee Boru, 2018).
Động lực là lực từ bên trong thúc đẩy một cá nhân quyết định làm hoặc không làm một việc nào đó, giúp cá nhân có thể làm việc mà không bị chán nản, khi đã xác định được điều mình làm và mục tiêu mình mong muốn thì cá nhân sẽ nảy sinh ra động lực để làm việc (Broussard & Garrison, 2004). Động lực được chia thành 3 loại động lực dựa trên đáp ứng các nhu cầu căn bản, động lực dựa trên điều kiện “nếu - thì” (củ cà rốt và cây gậy) và động lực tự thân (Daniel, 2009). Cụ thể: • Động lực dựa trên đáp ứng các nhu cầu căn bản: Nhu cầu căn bản của con người bao gồm nghỉ ngơi, ăn uống, sinh lý,…Khi các nhu cầu không được thỏa mãn thì bản thân con người sẽ tự đưa ra hành vi để đáp ứng nhu cầu đó. • Động lực dựa trên điều kiện “nếu - thì”: Động lực “nếu - thì” ở đây dùng để chỉ ra con người muốn đạt được kết quả tốt thì phải biết làm việc và nỗ lực, nếu lười biếng thì sẽ không nhận được kết quả tốt.
• Động lực tự thân: khi chúng ta được làm công việc mình yêu thích hoặc đúng sở trường thì động lực trong con người sẽ tự sinh ra, nó giúp cho chúng ta có hứng thú làm việc và đạt được kết quả cao mà không có đòi hỏi “nếu - thì”. Thông qua những định nghĩa trên, có thể thấy rằng động lực là nguồn năng lượng giúp cho chúng ta có thêm sức mạnh để làm một việc gì đó với mục đích mang lại 8 được kết quả cao. Động lực xuất phát từ bên trong lẫn bên ngoài của mỗi con người, khi chúng ta làm những công việc mà mình ưa thích thì động lực sẽ tự sinh ra và giúp chúng ta làm việc một cách hưng phấn, đạt được những thành tựu mong muốn. Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học thực chất là hoạt động sáng tạo, tìm kiếm những kiến thức có liên quan đến sự vật, hiện tượng thuộc về các lĩnh vực tự nhiên, xã hội nhằm mục đích tìm tòi ra những kiến thức và sáng tạo giúp đưa ra giải pháp ứng dụng vào các hoạt động nghiên cứu thực tiễn (Quốc hội, Luật Khoa học và công nghệ, 2013).
Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp con người gia tăng được tư duy sáng tạo, khả năng tìm kiếm thông tin và phát hiện ra những thứ mới lạ. Nghiên cứu khoa học được xem là một quá trình khá cụ thể thông qua đó chúng ta có thể phát triển khả năng nghiên cứu, tìm tòi ra những điều mới lạ, phát minh ra các phương pháp và phương tiện để đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội (Fırat, 2016). Nghiên cứu khoa học đòi hỏi con người cần phải tìm hiểu những hiện tượng sự việc xung quanh một cách có trình tự (Babbie, 1989). Nghiên cứu khoa học không chỉ là nghiên cứu những hiện tượng, sự việc xung quanh con người mà nó còn nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh như thông tin khách hàng, thu thập dữ liệu, tập hợp các ý kiến để đưa ra được quyết định (Zikmund, 2000).
Qua đó, có thể định nghĩa được nghiên cứu khoa học là hoạt động nghiên cứu, tìm tòi những sự vật và hiện tượng mới lạ, giúp con người có thêm nhiều kiến thức mới, trải nghiệm về thành tựu khoa học hiện đại. Không những vậy, nghiên cứu khoa học còn đáp ứng nhu cầu cuộc sống cho con người và xã hội thông qua việc phát minh ra các phương pháp, một đất nước có nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học thì đất nước sẽ ngày càng phát triển và tiến bộ. Sinh viên Định nghĩa sinh viên là những người tuổi đời còn trẻ, họ là những người năng động, thích sáng tạo, và dễ tiếp thu những kiến thức mới, là người có kiến thức và đang được đào tạo trong các trường cao đẳng và đại học (Nguyễn Nam, 2022). Sinh viên là những người có mối quan hệ bên ngoài xã hội khá tốt, vì môi trường sinh viên 9 là môi trường tập thể, có thể gặp được nhiều người và là mối quan hệ chung của xã hội.
Tóm lại, sinh viên là những người thuộc tầng lớp trí thức trẻ của xã hội. Sinh viên được xem như nền tảng của đất nước, góp phần đóng góp kiến thức, sức trẻ để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng lớn mạnh hơn.2 Các lý thuyết liên quan đến đề tài 2. Lý thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Theo Abraham Maslow mỗi sự việc con người hướng tới điều dựa trên những hành vi cụ thể, nhu cầu chính là nơi khởi nguồn cho các hành vi và được chia thành 5 cấp bậc bao gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện. • Nhu cầu sinh lý: được xếp ở bậc cuối cùng của tháp nhu cầu Maslow, đây là những như cầu đơn giản của con người như ăn, uống, nghỉ ngơi,…Khi con người mong muốn một nhu cầu nào đó và đã được đáp ứng thì sẽ tiếp tục hướng tới một nhu cầu khác cao hơn.
• Nhu cầu an toàn: là những nhu cầu về một cuộc sống an toàn, mong muốn những điều tốt đẹp và tránh khỏi những thứ nguy hiểm. • Nhu cầu xã hội: đây là nhu cầu quan trọng của con người, ở nhu cầu này con người mong muốn được trở thành một thành viên trong một tập thể, có một địa vị nào đó trong xã hội. • Nhu cầu được tôn trọng: con người khao khát thể hiện ý kiến cá nhân của mình và được thừa nhận cũng như nhận được sự tôn trọng của những người xung quanh. • Nhu cầu tự thể hiện: đây là nhu cầu cao nhất trong tháp nhu cầu Maslow, là mong muốn được thực hiện những ước mơ, hoãi bão của bản thân, được thể hiện mình và mang lại cho xã hội những điều tốt đẹp nhất.
1: Tháp nhu cầu Maslow (Abraham Maslow, 1943) Nguồn: (Maslow, 1943) 2. Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg (1959) Theo thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg được phát triển vào năm 1959, học thuyết chỉ ra rằng có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến động lực của nhân viên tại nơi làm việc bao gồm nhân tố duy trì và nhân tố động viên. Cụ thể như sau: • Nhân tố duy trì: là tập hợp các nhân tố nói về sự không hài lòng trong quá trình thực hiện công việc hoặc một nhu cầu, mong muốn nào đó. Nhân tố duy trì bao gồm: chính sách của doanh nghiệp, chính sách lương thưởng, môi trường làm việc, mối quan hệ giữa người với người tại nơi làm việc,… • Nhân tố động viên: là những nhân tố liên quan đến sự thích thú, hài lòng của con người tại nơi làm việc, bao gồm sự thỏa mãn trong công việc, những kết quả đạt được trong quá trình làm việc, những cơ hội được tạo ra,… Hình 2.
2: Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg (1959) Nguồn: (Christina M. Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) Học thuyết kỳ vọng được nhà tâm lý học người Canada Victor H. Vroom phát triển vào năm 1964. Ông đã đưa ra kết luận động lực của con người phụ thuộc bởi ba yếu tố bao gồm kỳ vọng; phương tiện, công cụ và giá trị, chất xúc tác, mức độ hấp dẫn.
• Kỳ vọng: là việc một cá nhân có sự nỗ lực, cố gắng trong công việc sẽ nhận được kết quả như mong muốn và có được sự công nhận của mọi người. • Phương tiện, công cụ: yếu tố này chỉ ra được mức độ tin tưởng của một cá nhân dành cho một người nào đó, nếu một người cố gắng làm và hoàn thành tốt công việc của mình họ sẽ có niềm tin họ sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng và điều này góp phần thúc đẩy động lực làm việc ngày càng tăng cao. • Giá trị, chất xúc tác, mức độ hấp dẫn: là sự so sánh giữa kết quả phần thưởng công việc so với mục tiêu đã đề ra của một cá nhân khi thực hiện công việc. 3: Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) Nguồn: (V Vroom, L Porter, E Lawler, 2015) 12 2.3 Các mô hình nghiên cứu có liên quan 2.
Mô hình trong nước 2. Nguyễn Thị Mỹ Duyên, ThS. Nguyễn Minh Tôn (2022). Phân tích các yếu tố tác động đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh Bài nghiên cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiên bởi sinh viên Nguyễn Thị Mỹ Duyên và Ths.
Nguyễn Minh Tôn, khảo sát 300 sinh viên trường Đại học Nông lâm TPHCM. Bài nghiên cứu sử dụng ba phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu và phương pháp phân tích số liệu. Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu thông qua phần mềm SPSS. Sau khi xử lý dữ liệu, nhóm tác giả tiến hành kiểm định chất lượng thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA.
Kết quả sau cùng kết luận được có 4 yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên bao gồm (1) quan tâm của khoa, trường, (2) năng lực sinh viên, (3) nhận thức đối với nghiên cứu khoa học, (4) giảng viên hướng dẫn.