CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Vấn đề nghiên cứu Trong cuộc sống hiện đại, sự tham gia của phụ nữ trong thị trường lao động đang trở nên quan trọng hơn đối với nền kinh tế phát triển, đặc biệt là đối với một nước đang phát triển. Hiện nay trong các doanh nghiệp ở nước ta, tầm quan trọng của các lao động nữ là rất lớn trong những ngành đòi hỏi sự khéo léo và linh hoạt như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), khoảng 72% phụ nữ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam. Tỷ lệ này cao hơn phần lớn các nước khác trên toàn cầu.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng là một trong số ít những nước có khoảng cách lương về giới ngày càng tăng. Cơ cấu lao động có việc làm chia theo giới tính qua các năm của Tổng Cục Thống Kê như sau: Bảng 1.1 Cơ cấu lao động có việc làm chia theo giới tính qua các năm Năm 2010 2011 2012 2013 2014 Nam (%) 51,6 51,7 51,5 51,4 51,2 Nữ (%) 48,4 48,3 48,5 48,6 48,8 Nguồn: Tổng cục Thống kê (2014, 2015) Theo thống kê, tỷ lệ lao động nữ trong các doanh nghiệp xấp xỉ 49%. Điều này cho thấy trong các doanh nghiệp, lao động nữ cũng đóng vai trò quan trọng như nam giới, vai trò của nữ giới và nam giới ngày càng bình đẳng. Hơn nữa các doanh nghiệp có các vị trí lãnh đạo chủ chốt là nữ cũng không hiếm.
Như vậy, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, phụ nữ thường tham gia vào các công việc không chính thức và dễ bị tổn thương. Theo bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình ở Việt nam (VHLSS) năm 2008, chỉ có 24,22% phụ nữ làm các công việc phi nông nghiệp, trong khi tỷ lệ làm các công việc phi nông nghiệp ở nam giới là 35,5%. Nhiều người trong số lao động nữ giới phải tự tạo việc 123doc 2 làm hoặc làm việc trong gia đình mà không được trả công.
Theo số liệu về Xu hướng việc làm tại Việt Nam (2009), 53% phụ nữ làm việc gia đình mà không được trả công, trong khi con số này đối với nam là 32%. Phụ nữ làm việc trong các khu vực không chính thức có tiền công thấp hơn, tay nghề thấp hơn, ít cơ hội nâng cao tay nghề và được đào tạo so với nam giới. Thu nhập của nữ giới hiện chỉ bằng khoảng 75% của nam giới, cũng như các chế độ đãi ngộ cho nữ giới cũng thường thấp hơn. Theo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, số lao động nữ tại các doanh nghiệp được hưởng chế độ nghỉ ngơi dưỡng sức rất ít và một số chế độ thai sản bị vi phạm.
Ngoài ra, nữ giới còn phải chịu nhiều áp lực từ các vấn đề bức xúc khác khi tham gia lao động. Theo Tổng cục Thống kê (2015), cả nước có khoảng 15,2 triệu người (tương ứng 21,9%) từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế. Trong số đó, tỷ lệ nữ giới nhiều hơn nam giới (62,0% so với 38,0%).2 Cơ cấu dân số không hoạt động kinh tế chia theo nguyên nhân Đơn vị tính: % Giới tính Lý do không làm việc Tổng số % Nữ Nam Nữ Tổng 100 100 100 62,0 Sinh viên/học sinh 30,6 40,4 24,6 49,8 Nội trợ 18,7 1,9 29,0 96,1 Ốm đau/tàn tật 5,8 8,9 3,8 41,4 Quá già/quá trẻ 29,1 27,7 29,9 63,7 Khác 15,8 21,0 12,6 49,4 Nhóm tuổi 15-24 34,9 43,9 29,4 52,2 25-54 16,7 10,2 20,7 76,9 55-59 6,7 4,9 7,7 72,2 Trên 60 41,7 41,1 42,2 62,6 Nguồn: Tổng cục Thống kê (2015) 123doc 3 Theo Bảng 1.2, những người không tham gia hoạt động kinh tế vì nhiều lý do như đi học, làm nội trợ, ốm đau, quá trẻ hoặc quá già. Trong số những lý do đó, số người không hoạt động kinh tế vì đang đi học chiếm tỷ trọng cao nhất (với 30,6%).
Tuy nhiên, con số này của nam giới khá cao với 40,4%, trong khi của nữ chỉ có 24,6%. Những người không hoạt động kinh tế vì lý do nội trợ chiếm 18,7%, trong đó gần như toàn bộ số người nội trợ là nữ giới (96,1%). Đối với nhóm tuổi, nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ trọng cao nhất (41,7%) và cao thứ hai là nhóm tuổi thanh niên từ 15 đến 24 tuổi (với 34,9%) trong số những người không tham gia hoạt động kinh tế. Trong tương lai, vai trò của nữ giới ngày càng bình đẳng với nam giới trong xã hội, các mức đãi ngộ cũng tăng lên dần.
Các chính sách của nhà nước cũng coi trọng và đánh giá cao vai trò của nữ giới đối với xã hội. Với các mức thu nhập, chế độ thai sản, nghỉ phép hợp lý hơn. Trách nhiệm song song của người phụ nữ vừa chăm sóc con cái vừa làm nội trợ, cũng như tạo thu nhập cản trở người phụ nữ tham gia vào các công việc được trả công, đặc biệt công việc trong khu vực chính thức. Để hỗ trợ sự tham gia của phụ nữ, như vậy, cần xem xét các yếu tố tác động đến cung lao động của nữ giới, nhất là nữ giới đã lập gia đình.
Trong gia đình, cả hai vợ chồng tham gia công việc bên ngoài đều có ít thời gian chăm lo cho gia đình. Khi chồng được tăng lương thì lại mong muốn người vợ làm việc ít hơn để dành thời gian cho gia đình. Các nghiên cứu về cung ứng lao động nữ đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu (Blundell, Ham và Meghir, 1987; Arellano và Meghir, 1992; Nakamura và Nakamura, 1994; Eissa và Liebman, 1996; Greenwood và cộng sự, 2005; Khan và Khan, 2009; Dostie và Kromann, 2012; Ismail và Sulaiman, 2013). Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển, sự tham gia của lao động nữ đã tăng lên, cả về số lượng và loại công việc.
Sự lựa chọn của phụ nữ để tham gia vào lực lượng lao động thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nói cách khác, các quyết định của người phụ nữ cho dù 123doc 4 làm việc hay không làm việc, đặc biệt là những người đã lập gia đình sẽ được quyết định bởi các đặc điểm cá nhân người lao động và đặc điểm gia đình. Người phụ nữ làm việc tạo thu nhập cho gia đình sẽ hỗ trợ chi phí và làm tăng lợi ích của hộ gia đình, nhưng điều này sẽ làm giảm thời gian chăm sóc con nhỏ và làm công việc nhà. Như vậy, người phụ nữ quyết định làm việc hay ở nhà được xác định bởi các đặc điểm gia đình và đặc điểm cá nhân, đặc biệt là mức lương của người chồng.
Những thông tin về các yếu tố tác động đến quyết định tham gia lao động của phụ nữ sẽ rất hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách liên quan đến lao động, việc làm và bình đẳng giới.2 Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến cung lao động của phụ nữ, đặc biệt chú trọng đến tác động của mức lương người chồng. Các mục tiêu của bài nghiên cứu như sau: Đánh giá tác động của mức lương người chồng đến cung lao động của người vợ. Đánh giá tác động của các yếu tố gia đình đến cung lao động của người vợ, cung lao động của người chồng và cung lao động của lao động nam và nữ. Bài nghiên cứu giúp nhận thấy các yếu tố ảnh hưởng đến cung lao động cá nhân, đặc biệt các yếu tố khuyến khích hay hạn chế người phụ nữ làm việc hay không làm việc.3 Phạm vi nghiên cứu Bài luận văn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cung lao động nữ ở nông thôn Việt Nam.
Về mặt không gian: Bài luận văn nghiên cứu trường hợp 12 tỉnh thành của Việt Nam, phân tích các yếu tố tác động đến cung lao động cá nhân. Về mặt thời gian: Bài luận văn nghiên cứu bộ dữ liệu VARHS năm 2010.4 Dữ liệu và phương pháp Dữ liệu được sử dụng trong bài luận văn là Khảo sát hộ gia đình (VARHS) được thực hiện năm 2010. Bộ VARHS là bộ dữ liệu khảo sát hộ gia đình được thực hiện mỗi hai năm một lần và bắt đầu từ năm 2002. Bộ dữ liệu này chủ yếu tập trung khảo sát đất đai, lao động và vốn của các hộ gia đình ở 12 tỉnh thành của Việt Nam ( Hà Tây, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đăk Lak, Đak Nông, Lâm Đồng, Long An).
Cuộc khảo sát được thực hiện để bổ sung cho VHLSS và VARHS được khảo sát sâu hơn. Bộ dữ liệu VARHS năm 2010 với 3208 hộ gia đình, bài nghiên cứu sử dụng 5128 quan sát cá nhân người lao động đã kết hôn và trong nhóm 15 đến 65 tuổi. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình cung lao động cá nhân với các biến độc lập là các đặc điểm cá nhân và đặc điểm hộ gia đình như mức lương cá nhân, mức lương vợ/chồng, mức lương các thành viên khác, giới tính, quy mô hộ gia đình, thu nhập phi lao động, nghèo, chủ hộ, sức khỏe, số trẻ em dưới 6 tuổi, số trẻ em từ 6 đến 15 tuổi, số con từ 16 tuổi trở lên. Phương pháp hồi quy biến công cụ giải quyết vấn đề nội sinh và mô hình tobit cũng được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu này.5 Cấu trúc luận văn Luận văn này có năm chương.
Chương tiếp theo tóm tắt những nghiên cứu trước và lý thuyết liên quan. Chương 3 trình bày phương pháp và mô tả dữ liệu. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong Chương 4. Và cuối cùng phần kết luận được đưa vào Chương 5.
123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương 2 trình bày về lý thuyết cung lao động cá nhân (Individual Labor Supply Theory), cung lao động hộ gia đình (Household Model), cung lao động nhất thể và tập hợp (Unitary and Collective Household Labor Supply Models). Các lý thuyết về cung lao động đều có ưu và nhược điểm, tuy nhiên, cung lao động cá nhân có thêm các đặc điểm gia đình được sử dụng trong bài nghiên cứu này. Các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài được thực hiện trước đây cũng được đề cập trong chương này như Mincer (1962), Barton và Zabalza (1980), Smith và Stelcner (1988), Juhn và Murphy (1997), Juhn và Murph (1997), Merz (2006), Blau và Kahn (2006), Morissette và Hou (2008), Dostie và Kromann (2012), Ismail và Sulaiman (2013).1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Cung lao động cá nhân (Individual Labor Supply Theory) Cung lao động đề cập đến tổng số giờ mà một cá nhân sẵn sàng làm việc tại một mức lương nhất định.