Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến áp lực học tập của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tiên, nêu rõ bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Sau đó, đưa ra phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài, rút ra ý nghĩa đề tài. Cuối cùng, trình bày kết cấu đề tài theo từng chương.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái niệm về Áp lực học tập Academic pressure (áp lực học tập) đề cập đến bất kỳ những áp lực mà sinh viên cảm nhận được trong những năm trước đại học, áp lực học tập đó biểu hiện qua nhiều phương diện có liên quan đến trường học hoặc trong việc theo đuổi thành tích học tập (Steve Bossy, 1996). Theo Phạm Thị Phương Thức & Bùi Thị Nga (2020), Áp lực học tập (hay còn gọi là áp lực tâm lí) trong lĩnh vực học tập ở học sinh là quá trình tâm lí diễn ra khi học sinh chịu các tác động, sức ép từ môi trường (gia đình, nhà trường, xã hội) hay chính bản thân học sinh lên hoạt động học tập của các em, dẫn đến những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến cơ thể, nhận thức, hành vi, cảm xúc của cá nhân. Các tác động có thể gây ra áp lực học tập cho học sinh có thể kể đến như: chương trình giáo dục, yêu cầu của giảng viên, kì vọng của cha mẹ, tác động từ nhóm bạn, áp lực từ xã hội,. Tạp chí Tâm lý học cho rằng áp lực học tập là sự dồn nén của các cảm xúc tiêu cực như căng thẳng, mệt mỏi,… và đồng thời đó là một phần không thể thiếu của cuộc sống nhằm thúc đẩy mỗi cá nhân nỗ lực để vượt qua khó khăn và đạt thành tích cao trong học tập.
Nghiên cứu của Lin & Chen (1995) cũng khẳng định sinh viên chịu rất nhiều áp lực để trở nên “có tính cạnh tranh” và để đạt được thành tích trong học tập. Theo Nguyễn Hương Thanh (2010) biểu hiện hiện trạng sức khỏe tâm lý do stress (áp lực) của sinh viên đại học như bực bội, hậm hực, lo âu và thậm chí dẫn đến trầm cảm nghiêm trọng, tỷ lệ phát bệnh thường xuyên theo dạng nhóm, hoặc hàng loạt tương đối cao. Có thể hiểu, áp lực học tập là những vấn đề mà sinh viên gặp phải và tác động thông qua nhiều mặt có liên quan trong quá trình học tập khi tiến dần để đạt được những thành tích kỳ vọng.2 Khái niệm sinh viên Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học”. Theo Từ điển Tiếng Việt: Khái niệm “sinh viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học.
Từ điển Hán - Việt cũng cho rằng: “Sinh viên là người học ở bậc đại học, bao gồm hệ cao đẳng và hệ đại học”. Còn theo Luật Giáo dục Đại học: Sinh viên là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, theo học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học. Như vậy, có thể thấy khái niệm sinh viên được hiểu khá thống nhất và thường được dùng với nghĩa phổ thông nhất là người học trong các trường cao đẳng và đại học. Trong bài viết này, nhóm tác giả hướng đến đối tượng nghiên cứu là sinh viên đang học chương trình đào tạo trình độ đại học hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại học.
Sinh viên đại học là những người có tên trong danh sách, đang theo học tại trường đại học, được đào tạo trình độ đại học từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành (Tổng cục thống kê, 2021).3 Các lý thuyết nghiên cứu 2.1 Lý thuyết Tương tác về stress Một trong những lý thuyết được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về stress là Lý thuyết Tương tác về stress của Lazarus & Folkman (1984). Trong khi lý thuyết của Cannon (1932) và Selye (1956) coi stress thuần là những phản ứng về mặt sinh lý, lý thuyết của Holmes & Rahe (1967) xem xét stress với bản chất là sự thay đổi thông qua những kích thích trong cuộc sống, thì Lý thuyết Tương tác về stress lại cho rằng stress là một quá trình liên tục tác động qua lại lẫn nhau giữa cá nhân với môi trường mà ứng phó là một phần quan trọng của sự tương tác ấy. Khi cá nhân thẩm định nhận thức sơ cấp (xem xét, đánh giá nhằm tiếp thu ban đầu) một sự kiện hay một tình huống là nguy hiểm (tổn hại/mất mát, thách thức hay đe dọa) và thẩm định nhận thức thứ cấp (xem xét, đánh giá nhằm tiếp thu từ những thông tin sẵn có) rằng bản thân không đảm bảo đủ nguồn lực để có thể ứng 11 phó với những tình huống đó thì bản thân sẽ xuất hiện những phản ứng stress về mặt sinh lý, tâm lý và hành vi. Những phản ứng sinh lý có thể kể đến gồm đổ mồ hôi, tăng nhịp tim, tăng huyết áp, và căng cứng cơ thể - Cannon (1932) gọi chung là phản ứng bằng cách chiến đấu - hay - bỏ chạy (fight-or-flight response).
Khi phải đối mặt với những tình huống hay sự kiện gây trở ngại một cách liên tục trong thời gian dài, cá nhân có thể sẽ gặp phải Hội Chứng Thích Ứng Chung (General Adaptation Syndrome; Selye, 1956), với báo động, kháng cự và kiệt quệ là ba giai đoạn của Hội chứng. Bên cạnh đó, những phản ứng về tâm lý như lo lắng, sợ hãi, và tức giận kèm theo những vấn đề về hành vi như rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống, hay hành vi gây hấn mà cá nhân cũng sẽ phải đối mặt (Abraham, Conner, Jones, & O’Connor, 2016; Sarafino & Smith, 2011). Trong trạng thái đó, cá nhân cần nỗ lực liên tục thay đổi về mặt nhận thức và hành vi để đáp ứng những đòi hỏi từ môi trường xung quanh bằng cách phát huy khả năng ứng phó. Các sự kiện hay tình huống gây stress, quá trình thẩm định nhận thức lúc này có thể bị tác động bởi những thay đổi, từ đó làm giảm những phản ứng stress.
Mặc dù vậy, trong một số trường hợp, việc ứng phó của cá nhân cũng có thể làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn và làm tăng mức độ của các phản ứng stress. Những thành tố và giai đoạn cơ bản trong quá trình tương tác giữa cá nhân và môi trường trong một tình huống gây stress đã được Lý thuyết Tương tác về stress trình bày. Cụ thể, các thành tố và quá trình đó là quá trình thẩm định nhận thức sơ cấp (xem xét, đánh giá nhằm tiếp thu ban đầu) các tình huống hay sự kiện về tính chất của nó, các tình huống hoặc sự kiện trong các thành tố và quá trình đó có khả năng gây stress, quá trình thẩm định nhận thức thứ cấp (xem xét, đánh giá nhằm tiếp thu từ những thông tin sẵn có) về nguồn lực của bản thân, phản ứng stress, quá trình ứng phó, và kết quả kéo theo của sự tương tác.2 Lý thuyết quá trình căng thẳng của Pearlin & cộng sự (1990) Mô hình lý thuyết này chỉ ra nhóm tác nhân gây căng thẳng chính bao gồm các yếu tố khách quan tác động trực tiếp tới áp lực học tập hay đặc điểm người chịu áp lực. Nhóm tác nhân gây căng thẳng thứ cấp bao gồm các yếu tố như xung đột vai trò, sự đảm bảo về thu 12 nhập, các yếu tố này sẽ tác động đến áp lực học tập thông qua khả năng kiểm soát, mức độ hài lòng tinh thần, sức khỏe và khả năng từ bỏ.
Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng, cho dù cùng đối mặt với hai nhóm căng thẳng kể trên, thì áp lực học tập vẫn có sự khác biệt đối với các nhóm người khác nhau, vì thế, tồn tại các yếu tố khác tác động tới quá trình căng thẳng của một người. Các yếu tố đó có thể kể đến như: các yếu tố nền tảng liên quan đến ngữ cảnh chịu áp lực (văn hóa, địa vị xã hội, mạng lưới mối quan hệ gia đình, lịch sử cá nhân) và các yếu tố trung gian thuộc về nguồn lực cá nhân và nguồn lực xã hội (hợp tác xã hội, chiến lược đối mặt,…) (Pearlin & cộng sự, 1990). Yếu tố nền tảng Văn hóa, địa vị KT-XH, mạng lưới gia đình, lịch sử cá nhân Yếu tố trung gian Nguồn lực cá nhân (chiến lược đối mặt) và nguồn lực xã hội (hỗ trợ xã hội) Tác nhân gây căng thẳng chính Kết quả đối Tác nhân gây căng với người Hành vi người chịu thẳng thứ cấp chịu áp lực áp lực Xung đột với công Yếu tố tâm lý Mức độ hạnh Nhu cầu học tập việc/gia đình/cuộc Khả năng kiểm phúc tinh sống xã hội soát thần Mức độ căng thẳng chủ quan của người Vấn đề tài chính Bản ngã cá nhân Sức khỏe chịu áp lực Nỗ lực giảm áp lực Hình 2. Mô hình Lý thuyết quá trình căng thẳng của Pearlin & cộng sự (1990).
Nguồn: Pearlin & cộng sự (1990).3 Một số đặc điểm tâm - sinh lý của sinh viên Sinh viên, đa số nằm trong độ tuổi thanh niên từ 18 đến 23 tuổi, có đủ khả năng nhận thức việc mình làm, đủ khả năng để làm chủ được hành vi của mình và có năng lực hành vi dân sự, có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân (Theo Luật Thanh niên, 2020). Đây là độ tuổi con người phát triển lên một bước mới trong hoạt động tư duy, trong tình cảm, ý chí và đầy khát vọng hướng tới tương lai với quá trình hình thành, phát triển và dần hoàn thiện nhân cách về mặt sinh học và xã hội với trình độ học vấn cao (Hoàng Anh, 2021). Giai đoạn sinh viên là giai đoạn đạt được sự trưởng thành về mặt thể chất. Trải qua quá trình thay da đổi thịt của tuổi thiếu niên, đây là giai đoạn hoàn thiện và đạt tới sự chín muồi về mặt sinh lý.
Các chỉ số cơ thể phát triển rực rỡ nhất trong thời kỳ này. Với đặc điểm như cấu trúc tế bào não của người lớn nhờ vào sự phát triển của hệ thống thần kinh. Các phần khác nhau của vỏ não hoàn thiện thông qua sự liên kết số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên.