chương 1- Luật CNTT). Có nhiều loại phần mềm và nhiều cách phân loại khác nhau dựa theo một số tiêu chí cụ thể nào đó, sau đây chúng tôi đưa ra một số khái niệm về một số loại phần mềm liên quan đến đẻ tài. Phần mềm ứng dụng (Application software) la su chi dinh chung cua cac chương trình máy tính dùng để thực hiện các tác vu cụ thể bang may vi tinh (xử lý văn bản). Điều này trái ngược với phần mềm hệ thống- là tập các chương trình dùng để khởi động hay chạy hệ thống máy tính và các ứng dụng; và các công cụ lập trình, như các trình biên dịch và các trình liên kết, được sử dụng để dịch và kết hợp mã nguồn chương trình máy tính và các thư viện thành những chương trình có thê thực thi được.
Phần mềm ứng dụng là một loại phần mềm có khả năng làm cho máy tính thực hiện trực tiếp một công việc nào đó người dùng muốn thực hiện. Điều này khác với phần mềm hệ thống tích hợp các chức năng của máy tính, nhưng có thể không trực tiếp thực hiện một tác vụ nào có ích cho người dùng. Sự phân biệt giữa phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng không rõ ràng. Thí dụ tiêu biểu cho phần mềm ứng dụng là chương trình xử lý văn bản, bảng tính, chương trình giải trí.
Theo Hồ Sĩ Đàm [5]: “Có rất nhiều phần mềm được viết để giúp giải quyết các công việc hàng ngày như soạn thảo văn bản, quản lý học sinh, quản lý kết quả học tập, lập thời khoá biểu. Những phần mềm như thế được gọi là phan mém tmg dung”. Về PMCC [5]: “Đối với những người làm tin hoc trong lĩnh vực phần mềm thì phần mềm ứng dụng là sản phẩm và là mục tiêu cuối cùng của họ. Để hỗ trợ cho việc làm ra các sản phẩm phần mềm, người ta lại dùng chính các phần mềm khác gọi là PMCC.
Các phần mềm dịch tự động các giải thuật viết trong một hệ thống quy ước nào đó thành các chương trình trên mã máy mà máy tính có thể thi hành được, các phần mềm hỗ trợ tổ chức dữ liệu, những phần mềm phát hiện lỗi lập trình và sữa lỗi. đều thuộc các PMCC. Do các PMCC được dùng với mục đích phát triển phần mềm nên ta còn gọi PMCC là phần mềm phát triển”. Có thể mô tả sự tương quan của các lớp PM, đối tượng tạo ra và đối tượng sử dụng chúng bằng sơ đồ sau [Hồ Sĩ Đàm, 5].
Hình sau là sơ đồ tương quan của các lớp phần mềm, đối tượng tạo ra và đối tượng sử dụng chúng. Cũng theo tác giả Hồ Sĩ Đàm, sự phân loại trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Ranh giới của các lớp phần mềm trên rất mờ, thậm chí còn xâm lấn vào nhau. Ví dụ phần mềm gõ bàn phím tiếng Việt có thể coi như một phần mềm ứng dụng, đồng thời do tính chất cung cấp môi trường cho các ứng dụng khác mà cũng có thê được coi như một phần mềm hệ thống.
Theo sơ đồ này các PM được phân thành 3 loại: PM hệ thống, PM phát triển, PM ứng dụng. phần mềm hệ thống- các nhà sản trấtTnáy tính, các hãng phần mềm lớn tạo ra phần mềm phát triển và các tiện ích- các hãng phần mềm tạo ra- người sử dụng là những người làm tin hoc phần mềm ứng dụng- những người làm tín học tạo ra- ai cũng có thể ứng dụng được các hệ tự động hoá văn phòng Hình 1: Sơ đồ tương quan giữa các lớp phần mềm PM hệ thống cung cấp môi trường làm việc cho các PM khác, nó cung cấp dịch vụ một cách thường trực theo yêu cầu của các chương trình khác. Ví dụ như các hệ điều hành (operating system). -Theo [11] phẩn mềm công cụ: các phần mềm không trực tiếp cung cấp nội dung cho bài học, bài giảng cụ thể.
Phần mềm chỉ cung cấp các công cụ làm việc mà thôi. Với các công cụ này, người dùng sẽ tự tạo ra nội dung cụ thé cho ban than minh. Theo chúng tôi: Phần mềm công cụ là phần mềm được dùng làm phương tiện để tạo ra các phần mềm khác. Theo sơ đồ của Hồ Sĩ Đàm thì PMCC hỗ trợ GV thiết kế bài giảng điện tử thuộc lớp các phần mềm ứng dụng.
Phần mềm công cụ cung cấp các công cụ làm việc để người sử dụng có thể tạo ra phần mềm khác theo mục đích của họ. Rất khó để có thé phân loại các phần mềm vì nếu nhìn theo mỗi hướng khác nhau sẽ có một cách phân loại khác nhau. Ngay cả với một cách phân loại cụ thể thì ranh rới phân loại cũng hẳu như không rõ ràng. Theo cách nhìn của một người sử dụng bình thường thì sẽ có 3 loại phần mềm là PM lập trình (dành cho những người làm tin học), phần mềm hệ thống (môi trường làm việc cho các PM khác) và phần mềm ứng dụng (thực hiện các chức năng của người sử dụng trong đó có PMCC hỗ trợ GV thiết kế BGĐT).
PM(softare)| + PM hệ thốn PM lập trình (Tools) [ PM ứng dụng | | (system eng | | | _ ản - PMnghe nhạc, ÔN PM soạn thảo văn bản xem phim trên CC thiết kế bài giảng đĩa CD Hình 2: Sơ đô phân loại phan mém PMCC được nghiên cứu trong đề tai này thuộc lớp các phần mềm ứng dụng dùng làm phương tiện hỗ trợ giáo viên thiết kế BGĐT. Ví dụ các PM: Microsoft Powerpoint; Macromedia Flash; Sketchpad, ViOLET. Bài giảng điện tử: Bài học điện tử: là bài học có nội dụng và hình thức thể hiện cũng như phương thức thực hiện nó phải dựa vào các nguồn và công cụ điện tử (chủ yếu nhất là các hoạt động của người học và của người dạy phải phù hợp với mục tiêu và nội dung gido duc) [21] Giáo án: Bản thiết kế cách thực hiện bài học, do giáo viên thực hiện, nhằm tiến hành hoạt động dạy học trong khuôn khổ của một bài học. Giáo án được trình bày bằng các phương tiện khác nhau: phương tiện truyền thống (giấy, bút, thước, dùng tay) và phương tiện computer [21].
Giáo án điện tử: là văn bản thể hiện thiết kế dạy học (bài học) được tạo ra bằng các công cụ phần mềm, có nội dung và cầu trúc số hóa và được thực hiện trong dạy học thông qua computer, các tiện ích và ứng dụng của computer va của mạng truyền thông điện tử [21]. Theo tác giả Mai Linh [23] Giáo án điện tử: giảng dạy được thực hiện nhờ vào sự hỗ trợ của máy tính và công cụ đa phương tiện (mutimedia) như: văn bản đồ hoạ, hình ảnh, âm thanh. Theo chúng tôi bài giảng điện tử là bài giảng được xây dựng, thiết kế trên máy vì tính qua việc tích hợp các ứng dụng CNTT nhằm hỗ trợ dạy học một cách có hiệu quả. Bài giảng điện tử gắn liền với nội dung dạy học theo chương trình SGK thường là do GV thiết kế nhằm thể hiện ý đồ, chiến lược sư phạm của mình để hỗ trợ dạy học nội dung đó một cách có hiệu quả nhất, theo định hướng đổi mới PPDH hiện nay.
BGĐT được thiết kế trên máy vi tính theo đúng tiến trình hoạt động trên lớp của GV và HS; nói đến BGĐT thì đã nói đến việc bài giảng đó được tích hợp các ứng dụng CNTT và phải sử dụng máy vi tính khi thực hiện việc dạy học nội dung đó. BGĐT nhất thiết phải sử dụng các công cụ đa phương tiện (multimedia) bao gdm van ban, hinh anh, 4m thanh, dé hoa, phim minh hoa. dé chuyển tải tri thức, tạo điều kiện cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động theo định hướng đổi mới PPDH hiện nay. Trong thực tế hiện nay các cụm từ “giáo án điện tử” và “bài giảng điện tử” được dùng khá phổ biến và chưa thống nhất.
Thuật ngữ “giáo án điện tử” được sử dụng khá lạm dụng, nhiều lúc đó chỉ là một “bản trình diễn điện tử” và quá lạm dụng kênh chữ, các tiết dạy học mang tính chất “trình diễn” nhiều hơn và GV sử dụng bàn phím, chuột, các nút lệnh điều khiến trong suốt cả tiết học, HS chỉ ngồi xem, nghe một cách thụ động, chưa chú ý đến tích cực hoá hoạt động học tập của HS. Theo chúng tôi không nên dùng thuật ngữ “giáo án điện tử” vì giáo án (hay bài soạn) là kế hoạch của GV để dạy học từng tiết học, cấu trúc bài soạn bao gồm cá mục đích yêu cầu của bài, trọng tâm bài, sự chuẩn bị của GV, công tác tổ chức lớp, làm việc với nội dung mới, củng cố, kiểm tra, hướng dẫn công việc ở nhà. Nhưng trong thực tế nhiều người hiểu và sử dụng thuật ngữ “giáo án điện tử” đồng nghĩa với “bài giảng điện tử”. Một số vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Về ứng dụng CNTT trong giáo dục. Đề tài “Ứng dụng CNTT trong giáo dục” (C9) năm 1993 chủ nhiệm PGS TS Trần Kiều đã nêu tình hình ứng dụng CNTT trong giáo dục của một số nước trên thế giới từ đó đưa ra định hướng, biện pháp tiến trình thực hiện công nghệ đó trong hoạt động dạy học và quản lý giáo dục phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đề tài cũng đã tổng quan sự phân loại phần mềm dạy học: phần mềm biểu diễn, phần mềm thực hành và luyện tập; phần mềm gia sư, phần mềm mô phỏng: PMCC. Để mô tả khái niệm PMCC đề tải đã dẫn dắt: Một trong những khó khăn chính của GV khi sử dụng các phần mềm máy tính là nội dung chứa đựng trong các PMDH thường không ăn nhập với chương trình dạy học mà họ đang tiến hành.
PMCC được thiết kế để khắc phục nhược điểm này. Chúng cung cấp cho người dùng những công cụ dễ sử dụng, không quá đi sâu vào kỹ thuật để xây dựng các bài giảng. Người dùng không cần hiểu một cách chỉ tiết các khía cạnh của kỹ thuật lập trình máy tính mà vẫn có thê áp dụng những kiến thức thuộc lĩnh vực bộ môn đề soạn một bài dạy trên phương tiện điện tử. Đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở phổ thông Việt Nam” mã số B2003 — 49 - 42TĐÐ chủ nhiệm PGS TS Đào Thái Lai đã làm sáng tỏ các quan niệm có liên quan như công nghệ thông tin, ứng dụng CNTT, đưa ra các tiêu chí đánh giá PMDH; xác định các tiêu chí về kịch bản sư phạm của PMDH, cấu trúc, yêu cầu của BGĐT, các bước tổ chức xây dựng PMDH.