Chương 1: NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC 1. Nguồn gốc của ý thức Song hành cùng với vật chất, ý thức là phạm trù cơ bản, quan trọng được các nhà triết gia quan tâm và nghiên cứu. Để đưa ra được khái niệm và nguồn gốc chính xác của ý thức, con người đã trải qua một quá trình lao động sáng tạo lâu dài từ những ngày đầu của nền văn minh nhân loại. Đúc kết qua bốn cuộc cách mạng lớn về khoa học kĩ thuật, chúng ta đã và đang hoàn thiện dần các lý giải về ý thức, từ đó tạo nên cơ sở để hình thành các trường phái triết học khác nhau mà tiêu biểu là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm với hai đường lối cơ bản đối lập nhau.
Trên cơ sở đó, triết học Mác-Lênin đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề của ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà ở đó chủ nghĩa duy vật biện là nền tảng chính. Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm. Từ thời xa xưa, khi con người vẫn còn rất mơ hồ về những giấc mơ hay những hiện tượng tự nhiên xung quanh mình, họ đã thần thánh hóa tất cả. Họ quan niệm rằng mỗi cơ thể luôn có một linh hồn điều khiển và sẽ rời bỏ thể xác sau khi con người mất đi.
Linh hồn này chính là ý thức chi phối cảm xúc, suy nghĩ và hành động của con người. Khi chúng ta mơ, linh hồn sẽ tạm lìa khỏi cơ thể và đi vào thế giới khác. Chủ nghĩa duy tâm đã phát triển nhưng quan điểm ấy thành vai trò của linh hồn, ý thức đối với thế giới vật chất xung quanh, quan niệm rằng ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: với những đại biểu tiêu biểu như Plato, Hegel đã tuyệt đối hóa vai trò của lý tính, khẳng định thế giới “ý niệm”, hay “ý niệm tuyệt đối” là bản thể, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực.
Ý thức của con người chỉ là sự “hồi tưởng” về “ý niệm”, hay “tự ý thức” lại “ý niệm tuyệt đối” Chủ nghĩa duy tâm khách quan: với những đại biểu như G. Mach lại tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác, coi cảm giác là tồn tại duy nhất, “tiên thiên”, sản sinh ra thế giới vật chất. 3 Như vậy, các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm đã phủ nhận tính khách quan của vật chất. Họ cho rằng ý thức của mỗi người là do những cảm giác, tư duy chủ quan sinh ra, nhưng suy nghĩ cảm tính ấy theo quan niệm của họ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà nếu có cũng chỉ là cái bóng, cái bên ngoài của sự vật hiện tượng.
Đó là những quan niệm hết sức phiến diện, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, cơ sở lý luận của tôn giáo. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình. Với quan điểm đối lập với các quan niệm của chủ nghĩa duy tâm, các nhà triết học theo trường phái duy vật đã xuất phát từ hiện thực, lấy hiện thực để giải thích nguồn gốc của ý thức.Các nhà duy vật siêu hình đã đồng nhất vật vật chất với ý thức. Theo đó, họ cho rằng ý thức cũng là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sinh ra.
Chẳng hạn, các nhà duy vật tầm thường thế kỷ XVIII (Can Vogt (Phôgtơ), Jacob Moleschott (Môlétsốt), Ludwing Buchne (Buykhơne.), lại cho rằng: “Óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật”. Một số nhà duy vật khác thuộc phái “Vật hoạt luận” (J. Hechken, Diderot) lại quan niệm ý thức là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất - từ giới vô sinh đến giới hữu sinh, mà cao nhất là con người. Theo họ, có chăng sự khác nhau giữa các giống, loài chỉ là ở cấp độ biểu hiện ra bề ngoài bằng ngôn ngữ hay không mà thôi.
Nhà triết học Pháp Diderot cho rằng: “cảm giác là đặc tính chung của vật chất, hay là sản phẩm của tính tổ chức của vật chất”. Tuy đã khắc phục được sự thiếu sót của chủ nghĩa duy tâm nhờ vào việc công nhận sư khách quan của vật chất; nhưng các nhà triết học duy vật lại tạo ra hạn chế mới trong quan điểm của mình khi phủ nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, tinh thần. Quan niệm này đã có tính khoa học hơn so với trước tuy nhiên nó còn mang nặng tính siêu hình cơ giới, máy móc và ảnh hương bởi những hạn chế của trình độ khoa học kĩ thuật thời bấy giờ. Những sai lầm, hạn chế của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình trong quan niệm về ý thức đã được các giai cấp bóc lột, thống trị triệt để lợi dụng, lấy đó làm cơ sở lý luận, công cụ để nô dịch tinh thần quần chúng lao động.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nguồn gốc tự nhiên. 4 Cùng với sự phát triển của khoa học-kĩ thuật, những quan điểm không phù hợp trong quá khứ như “ý niệm” là cái vốn có của con người, có trước và sáng tạo ra thế giới của chủ nghĩa duy tâm hay chủ nghĩa duy vật siêu hình xem ý thức là một dạng vật chất đã được các nhà triết học theo trường phái duy vật biện chứng khắc phục và hoàn thiện. Theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin, có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức, trong đó, hai yếu tố cơ bản nhất là bộ óc người và mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiện tượng phản ánh năng động, sáng tạo.
Xét về nguồn gốc tự nhiên, ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất; nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ óc người. Óc người là khí quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của bộ óc người. Mối quan hệ giữa bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức không thể tách rời bộ óc.
Sinh lý và ý thức là hai mặt của một quá trình - quá trình sinh lý thần kinh trong bộ óc người mang nội dung ý thức, cũng giống như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin. Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện. Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên ý thức.Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất, được thực hiện bởi sự tương tác qua lại giữa các hệ thống vật chất.
Đó là năng lực tái hiện những đặc điểm của hệ thống vật chất này ở một hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng, là quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Chặt chẽ với nhau từ thụ động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tượng phản ánh. Trong đời sống thực tiễn quá trình phản ánh được thể hiện rõ nhất qua quá trình học tập sáng tạo, con người liên tục tiếp nhận những kiến thức mới, từ đó so sánh đối chiếu và áp dụng vào đời sống qua hình thức thực hiện lại hoặc cải biên sáng tạo. Sự phản ánh phụ thuộc vào vật nhận tác động và vật tác động, cùng với đó luôn mang nội dung của vật thông tin của vật tác động.
Các kết cấu vật chất càng phát triển, hoàn thiện thì năng lực phản ánh của nó càng cao. Trong giới vô sinh với các kết cấu vật chất đơn giản, 5 ta có hình thức phản ánh đặc trưng như phản ánh cơ học,vật lý, hóa học. Đây là phản ánh đơn giản, thụ động không lựa chọn, định hướng được thể hiện qua những biến đổi về cơ học, vật lý, hóa học (thay đổi vị trí, tính chất lý-hóa qua quá trình kết hợp, phân giải các chất). Tất cả những biến đổi cơ, lý, hóa này tuy do những tác động bên ngoài khác nhau gây ra và phụ thuộc vào các vật phản ánh khác nhau, tuy nhiên chúng chỉ là hình thức phản ánh thấp nhất.
Giới hữu sinh với kết cấu vật chất phức tạp hơn giới vô sinh, do đó bản thân giới hữu sinh tồn tại những trình độ phản ánh khác nhau tiến hóa từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Vì vậy những phương thức tồn tại khác nhau của sinh vật thể hiện trình độ phản ánh khác nhau tương ứng. Tính kích thích là hình thức phản ánh đặc trưng cho thế giới thực vật và các động vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh. Tính cảm ứng hay là năng lực có cảm giác là hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh.
Đặc trưng cho phản ánh này là được thể hiện trong mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường bên ngoài nhờ vào hệ thần kinh thông qua phản xạ bẩm sinh hay phản xạ riêng biệt. Do vậy, sinh vật phản ánh có tính lựa chọn đối với các tác động riêng biệt của sự vật hiện tượng tạo thành đa dạng và phong phú các cảm giác khác nhau Phản ánh tâm lý là hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh trung ương. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động vật gắn liền với quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Phản ánh tâm lý đưa lại cho con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý nghĩ của chúng đối với môi trường sống xung quanh.
Nhờ vậy mà nó có thể lường trước được tất cả những nguy hiểm có thể xảy ra từ đó chủ động điều chỉnh, lựa chọn đưa ra hành động phù hợp nhất trước các tác nhân bên ngoài. Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh, nó chỉ có khi xuất hiện con người và xã hội loài người. Sự phản ánh này không thể hiện ở cấp độ cảm tính như cảm giác, tri giác, biểu tượng nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ).