Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu trái cây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng và tác động của các yếu tố đến hoạt động xuất khẩu trái cây của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2000 – 2022.
Chương 5: Đánh giá và đề xuất giải pháp cho các doanh nghiệp vượt qua những thách thức khi xuất khẩu trái cây Việt Nam sang Trung Quốc. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRÁI CÂY 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Xuất khẩu Belay S. (2009) đã từng viết trong cuốn “Lý thuyết Xuất - Nhập khẩu: Các thực tiễn và thủ tục” (tái bản lần 2) rằng “xuất khẩu” là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương đương. Nói một cách tổng quát, xuất khẩu hàng hoá là việc đưa hàng hoá ra nước ngoài để thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá.
Xuất khẩu tăng trưởng cao là sự gia tăng về kim ngạch, giá trị xuất khẩu. Theo Office of Compliance at the University of Pittsburgh, America (Văn phòng Tuân thủ Thương mại tại Đại học của Pittsburgh, Mỹ), xuất khẩu được định nghĩa là một chuyến hàng hoặc quá trình vận chuyển thực tế các mặt hàng ra khỏi Hoa Kỳ. Điều này bao gồm việc di chuyển vật lý tiêu chuẩn của hàng hoá, dịch vụ qua biên giới bằng xe tải, ô tô, máy bay, đường sắt hoặc xách tay. Theo khoản 1, Điều 28, Chương 2 Luật Thương mại Việt Nam (2005), xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Hiểu theo cách khái quát, xuất khẩu là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia. Ngô Thị Mỹ và Trần Nhuận Kiên (2016) cho rằng xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia. Xuất khẩu nông sản là hoạt động trao đổi nông sản của một quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế sẵn có của đất nước trong phân công lao động quốc tế nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Vậy ta thấy rằng, có rất nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu trên toàn thế giới.
Dưới góc độ tiếp cận của bài nghiên cứu, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới, dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia.2 Hình thức xuất khẩu 14 Trong thực tế, xuất khẩu hàng hóa được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đó là xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu tại chỗ, tái xuất khẩu và gia công xuất khẩu (Đỗ Đức Bình & Ngô Thị Tuyết Mai, 2016). Tương tự như vậy, trái cây cũng được xuất khẩu theo những cách thức này. Theo Nguyễn Minh Sơn (2010) và Đỗ Thị Hòa Nhã (2017) các hình thức xuất khẩu nói chung và xuất khẩu trái cây nói riêng được chia thành các hình thức sau: - Xuất khẩu trực tiếp: Là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu và người mua trực tiếp thực hiện các giao dịch kinh tế với nhau (gặp mặt, qua thư từ, điện tín). Phần lớn hàng hoá ở thị trường thế giới đều được trao đổi thông qua xuất khẩu trực tiếp (trên 2/3 tổng kim ngạch).
Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu được cao hơn các hình thức khác do không phải thông qua khâu trung gian. Trong điều kiện thương mại quốc tế hiện nay, với vai trò bán hàng trực tiếp, người bán có thể nâng cao uy tín của mình thông qua việc đảm bảo quy cách, chất lượng các loại nông sản cũng như việc đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người mua. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi người bán cần có sự nhanh nhạy về thông tin (thị trường, giá cả, hàng rào phi thuế quan,.) đồng thời trong quá trình bán hàng cũng có thể gặp những rủi ro như bên mua hàng thanh toán chậm hoặc tỷ giá thay đổi. - Xuất khẩu qua trung gian: là việc xuất khẩu hàng hóa được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung gian và bên thứ ba này sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định.
Đơn vị trung gian này sẽ thay mặt chủ hàng ký hợp đồng với đối tác và thực hiện các thủ tục hải quan, thanh toán… Với hình thức này, hai bên cần ký hợp đồng xuất khẩu ủy thác và quyền lợi, nghĩa vụ của hai bên được thỏa thuận trong hợp đồng. - Xuất khẩu tại chỗ: là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu bán hàng cho đối tác nước ngoài ngay tại đất nước mình. - Tái xuất khẩu: là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu mua hàng hóa ở nước này rồi bán lại giá cao hơn ở nước khác để thu lợi nhuận (mà không thực hiện gia công, chế biến). - Gia công xuất khẩu (gia công quốc tế): là khi doanh nghiệp nhận gia công sẽ nhập khẩu nguyên liệu (hoặc bán thành phẩm) của doanh nghiệp đặt gia công để tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo nhu cầu của bên đặt gia công.3 Trái cây Trái cây và rau quả được coi là các bộ phận ăn được của thực vật (ví dụ: các cấu trúc mang hạt, hoa, chồi, lá, thân, chồi và rễ), được trồng hoặc thu hoạch ở dạng hoang dã, ở trạng thái thô hoặc ở dạng chế biến tối thiểu (theo định nghĩa được thống nhất cho Năm quốc tế của Rau Quả - dự án do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thành lập nhằm nâng 15 cao nhận thức về lợi ích dinh dưỡng của trái cây và rau).
Trái cây và rau quả đã trải qua quá trình chế biến tối thiểu với các hoạt động như rửa, phân loại, cắt tỉa, gọt vỏ, cắt lát hoặc cắt nhỏ mà không ảnh hưởng đến hầu hết các đặc tính vật lý, hóa học, cảm quan và dinh dưỡng vốn có của của chúng (Gil, Kader và Tomás - Barberán, 2008). Theo đó, trái cây nhiệt đới được Tổ chức Trái cây nhiệt đới quốc tế (International Tropical Fruit Network) định nghĩa là những loại được trồng ở vùng nóng ẩm, trong khu vực nằm giữa Chí tuyến Bắc và Chí tuyến Nam. Chúng được trồng bao phủ hầu hết các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Á, Châu Phi, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Caribbean và Châu Đại Dương với đa dạng các chủng loại như: nhãn, vải, chôm chôm, thanh long, mít, me, mãng cầu, ổi, xoài, măng cụt, sầu riêng, chuối, dưa, dừa, dứa, … Với mục đích cung cấp thực phẩm và chất dinh dưỡng, FAO và tổ chức Y tế Thế giới kiến nghị tiêu thụ trái cây nhiệt đới cho chế độ ăn uống giúp cân bằng và phòng tránh các vấn đề về tim mạch, tiểu đường và một số loại ung thư. Trong đó, các loại trái cây nhiệt đới chính được giao dịch toàn cầu như chuối, xoài, dứa, bơ và đu đủ, ổi, chôm chôm, sầu riêng, mít, thanh long và chanh dây được trồng rất đại trà và phổ biến.
Bên cạnh đó, mặt hàng trái cây được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) định nghĩa như sau: Trái cây bao gồm các loại trái và quả mọng được đặc trưng bởi hương vị ngọt ngào (trừ một số ngoại lệ). Hầu hết đều là từ cây trồng lâu năm, chủ yếu mọc từ cây, bụi rậm và cây bụi, cũng như dây leo hoặc từ cọ (như trái dừa). Cây trồng cho lĩnh vực thương mại thường được trồng trong các nông trại, đồn điều, nhưng cũng có một lượng lớn số trái cây được thu thập từ các cây mọc dại. Dưa và dưa hấu dù thường được coi là trái cây nhưng thực ra, FAO xếp chúng vào nhóm rau vì chúng là loại cây được trồng và thu hoạch như rau.
Đặc tính của trái cây là chứa hàm lượng nước rất cao,khoảng 70-90% trọng lượng, nhiều vitamin, khoáng chất và axit hữu cơ; một số loại có hàm lượng chất xơ cao. Chúng cũng rất dễ hỏng. Mặc dù vậy, thời hạn sử dụng của chúng có thể được kéo dài thông qua việc sử dụng hóa chất ức chế phát triển và kiểm soát nhiệt độ, áp suất cũng như độ ẩm môi trường sau khi được thu hoạch. FAO liệt kê 36 loại cây ăn quả chính.
Mã và tên của mỗi loại được liệt kê dưới bảng sau đây: Bảng 2.1 : Các loại trái cây chính theo định nghĩa của FAO STT FAO TÊN STT FAO TÊN 1 486 Chuối 19 547 Mâm xôi 2 489 Chuối lá 20 549 Lý chua lông 16 3 490 Cam 21 550 Lý chua 4 495 Quýt 22 552 Việt quất 5 497 Chanh và Chanh tây 23 554 Nam việt quất 6 507 Bưởi và Bưởi chùm 24 558 Quả mọng 7 512 Quất 25 560 Nho 8 515 Táo 26 569 Sung 9 521 Lê 27 587 Hồng 10 523 Mộc qua 28 592 Kiwi 11 542 Chi Táo Lê 29 571 Xoài 12 526 Mơ 30 572 Bơ 13 530 Anh đào chua 31 574 Dứa 14 531 Anh đào 32 577 Chà là 15 534 Đào và Xuân Đào 33 591 Đào lộn hột 16 536 Mận 34 600 Đu đủ 17 541 Quả hạch 35 603 Trái cây nhiệt đới 18 544 Dâu 36 619 Khác Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) Trong Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (HS CODE) – hệ thống tiêu chuẩn hóa quốc tế của Tổ chức hải quan thế giới về tên gọi và mã số, với mục đích phân loại hàng hóa được buôn bán trên phạm vi toàn thế giới – trái cây được phân vào Chương 8: Quả và quả hạch (Nuts) ăn được.2: Trái cây theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa HS PRODUCT LABLE MÔ TẢ HÀNG HÓA CODE Coconuts, Brazil nuts and cashew nuts, Dừa, quả hạch Brazil và hạt 08.01 fresh or dried, whether or not shelled or điều, tươi hoặc khô, đã hoặc peeled chưa bóc vỏ hoặc lột vỏ 17 Other nuts, fresh or dried, whether or not Quả hạch (nuts) khác, tươi hoặc 08.02 shelled or peeled (excl.