Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài. Cơ sở lý luận về xuất khẩu thủy sản và tác động của Hiệp định Thương mại tự do đến xuất khẩu hàng thủy sản. Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU trong bối cảnh thực thi Hiệp định EVFTA.
Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang EU trong bối cảnh Hiệp định EVFTA có hiệu lực. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá tác động của các Hiệp định Thương mại tự do đến xuất khẩu Doãn Kế Bôn (2016) với nghiên cứu Đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU được ký kết, tác giả cho rằng EU là thị trường chính có nhiều tiềm năng đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam nhưng là thị trường khó tính và có nhu cầu đa dạng, thường xuyên thay đổi và mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt.
Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015 đã đạt được nhiều kết quả tuy nhiên khả năng mở rộng và đổi mới mặt hàng chưa cao, hiệu quả xuất khẩu còn thấp. EVFTA với những tiêu chuẩn cao về cam kết mở cửa thị trường sẽ tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu thì việc nghiên cứu các giải pháp, có sự chuẩn bị, phát huy lợi thế và nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào thị trường EU là một vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý nhà nước. Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh Phương (2016) trong nghiên cứu Đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU: Sử dụng các chỉ số thương mại, đã phân tích tác động ngành nhìn từ ba khía cạnh: khía cạnh cơ cấu thương mại (cơ cấu xuất khẩu, cơ cấu nhập khẩu), hệ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA), chỉ số Chuyên môn hóa xuất khẩu (ES).
Kết quả cho thấy trong giai đoạn 2001-2015, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với EU đều gia tăng vững chắc; thương mại giữa Việt Nam và EU chủ yếu mang tính liên ngành do cơ cấu xuất nhập khẩu, lợi thế so sánh và chuyên môn hóa xuất khẩu của hai bên khác nhau rõ rệt. Riêng ngành máy móc thiết bị, thương mại nội ngành diễn ra ở mức độ cao. Nghiên cứu cũng nhận định, những tác động của EVFTA theo ngành khá phức tạp và đan xen nhau, theo đó EVFTA sẽ mang lại những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam. Nguyễn Thị Thơ (2020) trong nghiên cứu Đánh giá tác động của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu đối với thương mại song phương, trên Stata 14.0, tác giả tiến hành ước lượng mô hình trọng lực của thương mại giữa Việt Nam và nước EU bằng phương pháp OLS với các biến phụ thuộc lần lượt là giá trị xuất khẩu, giá trị nhập khẩu, thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước EU.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, EVFTA có tác động tích cực đáng kể đối với nhập khẩu hàng 6 hóa của Việt Nam từ EU và tổng giá trị thương mại song phương giữa Việt Nam và EU. Đặc biệt là giá trị nhập khẩu hàng hóa. Đối với giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang các nước EU, biến giả EVFTA không có ý nghĩa thống kê. Bùi Quý Thuấn (2020), trong nghiên cứu Lý thuyết và phương pháp đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do đến thương mại, bài viết đã tổng hợp các lý thuyết liên quan đến tác động của hiệp định thương mại tự do đến thương mại thông qua các chỉ số như: lợi thế cạnh tranh (RCA); định hướng khu vực (RO); cường độ thương mại (TII) để đánh giá mức độ trao đổi thương mại giữa các quốc gia và giới thiệu mô hình trọng lực nhằm giải thích các nhân tố tác động chuyển hướng thương mại và tạo lập thương mại.
Nghiên cứu này đã chỉ ra, các chỉ số RCA, RO có thể đánh giá mức độ trao đổi thương mại trước và sau khi hiệp định thương mại tự do được ký kết cũng như dự đoán xu hướng và tiềm năng quan hệ thương mại giữa các thành viên tham gia ký kết hiệp định thương mại tự do. Phan Thế Công và Nguyễn Đoan Trang (2020), trong nghiên cứu Mô hình đánh giá tác động của thuế quan đến xuất và nhập khẩu hàng hoá, bài viết đã tổng quan một số mô hình thực nghiệm được các nhà nghiên cứu kinh tế học sử dụng để đánh giá tác động của thuế quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá và trong nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu khả năng ứng dụng mô hình GTAP (Global Trade Analysis Project) để đánh giá tác động của thuế quan tới xuất và nhập khẩu ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình GTAP không chỉ cho phép đánh giá tác động lên nền kinh tế nói chung mà còn đối với từng ngành sản xuất riêng. Việc áp dụng mô hình GTAP hoàn toàn có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác như cắt giảm hàng rào phi thuế quan, thay đổi chính sách đầu tư hay mở cửa khu vực dịch vụ.
Với các công trình nghiên cứu ngoài nước, Shujiro Urata (2007) trong nghiên cứu The Impacts of Free Trade Agreements on trade flows: an application of the Gravity Model Approach, tác giả đã làm rõ vai trò và tác động của FTA tới thương mại quốc tế theo hai cách. Cách thứ nhất, tác giả kiểm tra sự khác biệt trong kim ngạch thương mại trước và sau khi FTA có hiệu lực; cách thứ hai là tác giả sử dụng mô hình trọng lực để đo lường tác động của các FTA đối với dòng thương mại hai chiều. Kết quả cho thấy các FTA mang lại nhiều hiệu ứng sáng tạo mậu dịch trong kinh tế, trong đó tác dụng chuyển hướng thương mại còn hạn chế. Nghiên cứu của Mutrap (2011), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu: Đánh giá tác động định lượng và định tính, đã phân tích tác động có thể của hiệp định FTA Việt Nam - EU tương lai.
Dựa trên phương pháp định lượng sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) và phương pháp định tính, báo cáo phân tích tác động đối với những ngành quan trọng như may mặc, giày dép, ô tô, điện tử, ngân 7 hàng và lĩnh vực đầu tư. Báo cáo cũng đưa ra những kiến nghị, biện pháp cụ thể để Việt Nam có thể lựa chọn cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá tác động của các Hiệp định Thương mại tự do đến xuất khẩu ngành hàng thủy sản của Việt Nam Nguyễn Thị Phương Dung và cộng sự (2012) thực hiện nghiên cứu đề tài Các rào cản thương mại khi xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường Nhật, đã sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối, so sánh số bình quân để thấy sự thay đổi số liệu tăng giảm qua các năm. Qua đó, thấy được hầu hết các rào cản kỹ thuật mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được với nguyên nhân vẫn còn một khoảng cách khá xa giữa người nuôi và nhà sản xuất.
Trong khi đó, thức ăn chăn nuôi phụ thuộc khá nhiều vào nhập khẩu vì thế việc kiểm tra chất lượng, con giống, vi sinh,…và kỹ thuật nuôi còn nhiều hạn chế. Trong nghiên cứu của Lưu Thị Huyền (2020) với đề tài Đánh giá tác động của Hiệp định đối tác và toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tác giả đánh giá tác động của Hiệp định CPTPP thông qua phương pháp chỉ số lợi thế so sánh RCA kết hợp sử dụng mô hình SMART. Kết quả cho thấy, khả năng đem lại lợi ích từ CPTPP đối với việc mở rộng thương mại là rất lớn và hiệu quả, tuy nhiên CPTPP sẽ làm cho Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt hơn với những nhóm ngành của các nước nội khối CPTPP có lợi thế. Từ các phân tích và tính toán, tác giả đã chỉ ra các cơ hội mà CPTPP mang lại: thúc đẩy tự do hóa thương mại và thị trường xuất khẩu, nhận được các ưu đãi thuế quan, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng phải chịu thách thức từ hàng rào phi thuế quan, cam kết về trách nhiệm xã hội, vấn đề cạnh tranh,. Nguyễn Tiến Hoàng và cộng sự (2022), trong nghiên cứu Các nhân tố tác động đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên thuộc Hiệp định CPTPP, tác giả sử dụng mô hình trọng lực với dữ liệu bảng của 11 quốc gia trong giai đoạn 2011 - 2020, so sánh và lựa chọn các phương pháp Pooled OLS, REM, FEM, FGLS để hồi quy và ước lượng mô hình. Kết quả hồi quy cho thấy GDP của nước nhập khẩu, dân số của Việt Nam, tỷ giá hối đoái thực và việc tham gia các FTA có tác động tích cực đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước thành viên CPTPP, trong đó, quy mô dân số có tác động mạnh nhất trong khi tỷ giá hối đoái thực cũng có tác động nhưng không đáng kể. Ngược lại, khoảng cách địa lý là nhân tố gây cản trở, tác động ngược chiều với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Rabbani và cộng sự (2011) áp dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu tăng trưởng và các nhân tố tác động đến sản lượng nhập khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ từ các quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan. Nghiên cứu cho thấy nguồn cá da trơn nhập khẩu từ các nước này vào Mỹ chịu tác động tích cực bởi giá cá da trơn nuôi 8 của Mỹ, dân số của Việt Nam, của Mỹ và GDP bình quân đầu người của Việt Nam, đồng thời bị tác động tiêu cực bởi cước phí, thuế, nguồn gốc xuất xứ và nhãn hiệu cá da trơn. Natale và cộng sự (2015) nghiên cứu các nhân tố tác động đến thương mại thủy sản quốc tế với dữ liệu của 197 quốc gia thông qua mô hình lực hấp dẫn.