Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng máy móc thiết bị linh kiện sang thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH Osco International. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng máy móc thiết bị linh kiện sang thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH Osco International. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết cơ bản về cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật kinh tế cơ bản, quan điểm về cạnh tranh rất rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, văn hóa, thể thao,. có khá nhiều định nghĩa về cạnh tranh khác nhau. Cụ thể: Theo quan điểm cạnh tranh cổ điển, Các-mác cho rằng: “Cạnh tranh là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa dựa theo chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất gây ra cạnh tranh, theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”, các nhà tư bản đưa ra những biện pháp sử dụng để cạnh tranh là thường xuyên cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, để thu lợi nhuận siêu ngạch”.
Trong khoa học kinh tế, thuật ngữ “cạnh tranh” được nhà kinh tế học Adam Smith đưa ta đầu tiên vào năm 1776. Cạnh tranh có thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó khiến cho toàn bộ xã hội được lợi do năng suất của doanh nghiệp tăng lên tạo ra. Theo Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992), “Cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình”. Theo nhà kinh tế học người Mỹ -Michael Porter (1998): “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2014): “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Như vậy, qua các khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: “Cạnh tranh là ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, thương nhân.) để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh là quy luật đặc 8 trưng của kinh tế thị trường và cũng là động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết hệ thống thị trường.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế.” Theo Michael Porter (2013): Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Michael Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2014): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ".
Như vậy, thông qua các định nghĩa trên, ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh là việc sử dụng và kiểm soát các nguồn lực của doanh nghiệp (chất lượng sản phẩm, điều kiện sản xuất ổn định, quy mô sản xuất lớn và khi đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ xuống.), tận dụng mọi cơ hội xuất phát từ môi trường kinh doanh, thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, từ đó đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp về lợi nhuận, doanh thu và thị phần. Các cấp độ cạnh tranh và lực lượng cạnh tranh ● Các cấp độ cạnh tranh Chúng ta có thể xem xét năng lực cạnh tranh ở 3 cấp độ khác nhau: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Năng lực cạnh tranh quốc gia: Theo nhận định của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc gia nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và đặc trưng kinh tế khác”. Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn 9 lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi vì chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên.
Theo Fagerberg (1988) định nghĩa năng lực cạnh của một quốc gia như là “khả năng của một nước trong việc nhận thức rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung, nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm, mà không gặp phải các khó khăn trong cán cân thanh toán”. Đây là khái niệm vừa mang tính kinh tế vĩ mô, vừa mang tính ngẫu nhiên, bởi vì, khi tính cạnh tranh được xác định như là năng lực để duy trì thị phần có khả năng tạo ra lợi nhuận thì năng lực này lại có triển vọng chưa rõ ràng và mang tính ngẫu nhiên. Cạnh tranh cấp độ quốc gia có nghĩa là cạnh tranh giữa các nền kinh tế, hướng đến mục tiêu ổn định, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, xã hội, từ đó cải thiện, đem lại mức thu nhập cao hơn, nâng cao chất lượng sống cho người dân. Nhìn chung có thể hiểu năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quyết định mức độ hiệu quả và tính năng suất của một quốc gia.
Một nền kinh tế có năng suất, hiệu quả là nền kinh tế có năng lực sử dụng, khai thác tốt các nguồn lực có hạn. Năng lực cạnh tranh cấp ngành Theo IMD (2004): “Năng lực cạnh tranh ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất”. Theo Franziska Blunck (2015), “Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các DN trong ngành so với các đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp”. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã có khái niệm Năng lực cạnh tranh của ngành như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Như vậy, có thể hiểu: “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng cạnh tranh của toàn ngành của một quốc gia so với các quốc gia khác”. Điều này có nghĩa là nếu các yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của một ngành cao, thì quốc gia đó sẽ có năng lực 10 cạnh tranh về ngành liên quan cao. Sức cạnh tranh không chi thể hiện sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, của ngành mà còn tạo nên sức cạnh tranh của một quốc gia. Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở cấp độ này, chỉ số cạnh tranh thể hiện ở các yếu tố như khả năng sinh lợi nhuận, chi phí, năng suất sản xuất và thị phần. Bên cạnh đó, các yếu tố như các kỹ năng quản trị, tài chính, những kiến thức về mặt công nghệ, bản chất của thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (Theo Công nghiệp Canada 1995, OECD 1992 và Grossi 1990). Bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc khác biệt so với đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là khả năng của doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất và cung cấp sản phẩm ưu việt hơn so với đối thủ khi đã tính đến yếu tố giá cả.
Porter (1990) khái quát hơn khi định nghĩa năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là khả năng của một doanh nghiệp nhất định cạnh tranh thành công trong một môi trường kinh doanh nhất định. Bản chất của cạnh tranh này chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc khác biệt hơn so với đối thủ để họ lựa chọn mình. Do đó các doanh nghiệp cạnh tranh thông qua thiết kế, sản xuất và cung cấp sản phẩm ưu việt hơn so với đối thủ khi đã tính đến yếu tố giá cả. Một số lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm đối với doanh nghiệp 2.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm Cho đến nay, các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất. Các khái niệm đưa ra đều dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh của quốc gia và của doanh nghiệp. Theo hai tác giả Keinosuke Ono và Tatsuyuki Negoro nhận định: “Sản phẩm cạnh tranh tốt là sản phẩm hội tụ đủ các yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong đó yếu tố cơ bản nhất là chất lượng sản phẩm.