Chương 1: Tổng quan về ngành chè Việt Nam và thị trường xuất khẩu. - _ Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và đề xuất mô hình. - _ Chương 3: Phân tích tình hình xuất khâu chè của Việt Nam (2010 — 2019) CHUONG 1: TONG QUAN VE NGÀNH CHE CUA VIỆT NAM VÀ THI TRUONG XUAT KHAU 1.Tổng quan về ngành chè Việt Nam 1. Sự hình thành và phát triển của ngành chè 1.
Lịch sử hình thành và phát triển của chè trên thế giới Chè hay tra thường được nhiều người biết đến từ truyền thuyết Than Nông của Trung Quốc. Câu chuyện kề rang, một ngày nọ, khi đang lang thang trong rừng tìm kiếm các loại hat và được thảo có thé ăn được, Than Nông đã mệt lả và vô tình trúng độc tới 72 lần. Tưởng chừng như không qua khỏi thì một chiếc lá đã vô tình rơi vào miệng ông. Ông đã nhai nó và thật kỳ diệu, chiếc lá đó đã cứu mạng ông.
Và kể từ đó, nó được biết đến với tên gọi chè hay tra. Tuy chỉ là một truyền thuyết và sự thật là trà không dùng dé giải độc, nhưng từ câu chuyện của ông tổ nông nghiệp trong thần thoại Trung Hoa, người nghe có thé thấy rõ được tầm quan trọng của trà. Có rất nhiều ý kiến trái chiều về nguồn gốc của chè, xong khi nói về thời xa xưa, ranh rới giữa các quốc gia chung quy vẫn chưa được rạch ròi như thời kỳ hiện đại bây giờ. Như vậy, có thể gói gọn lại răng, chè bắt nguồn từ Bắc Đông Nam Á cô đại.
Theo các chứng cứ khảo cổ học, chè xuất hiện vào khoảng 6000 năm trước hay 1500 năm trước khi Pharaoh xây kim tự tháp Giza (Shunan Teng). Ban đầu chè được coi như một loại rau, và trong vòng hơn 1500 năm trở lại đây thì nó mới được chuyền đổi từ đồ ăn sang đồ uống với cách thức pha chế tạo ra nhiều hương vị. Vào năm 805 sau Công Nguyên thời nhà Đường, một nhà sư Nhật Bản tu hành tại chùa Quốc Thanh mà nay thuộc tỉnh Chiết Giang — Trung Quốc đã mang giống chè về trồng tại Shikagen — Nhật Ban từ đó trên Thế giới xuất hiện một trường phái trà đạo mới là trà đạo Nhật Bản. Đến thé ky thứ XIV, hoàng dé Trung Hoa chuyên chuẩn mực bánh trà sang lá rời.
Bước sang thé ky thứ XVII, nữ hoàng Catherine xứ Braganza — Bồ Dao Nha đã đưa trà đến với giới thượng lưu Anh qua việc trở thành người bạn đời của vua Charles Đệ Nhị năm 1661. Nhờ đó ma năm 1700 tại Anh, giá cua chè bán đắt gap 10 lần café. Khi đã phủ sóng tại Châu Âu thì bất ngờ vào thé kỷ thứ XIX, cuộc chiến thuốc phiện né ra giữa Anh và Trung Quốc, vị thé của quốc gia đông dân nhất thế giới khi đó bị suy giảm. Đồng thời, giống chè tại Trung Quốc đã bị lay cap trong một chiên dich bí mật và cùng với việc buôn lậu chẻ đã khiên cho nó không còn là một mặt hàng xa lạ với nhiều quốc gia trên thế giới nữa.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngành chè tại Việt Nam Tại Việt Nam, các nhà khảo cô học đã tìm ra những dấu tích của lá và hóa thạch của chè tại tỉnh Phú Thọ. Đặc biệt, người ta tìm được một rừng chè hoang may vạn cây, có những cây chè cổ thụ cao tới 6 — 8 mét tại Suối Giang — Nghĩa Lộ. Hơn thế nữa, còn có một rừng chè, có cây cao tới 18 mét ở Lạng Sơn. Từ những năm 80 của thé ky XIX, khi người Pháp chiếm được hoàng thành Thăng Long, họ đã tiến hành các cuộc khảo sát về việc sản xuất và tiêu thụ chè tại Hà Nội, từ phía Bắc Việt Nam tới các bản làng của Trung Quốc.
Từ đó, họ đã mở các đồn điền trồng chè; nổi tiếng phải nói đến đồn điền 60 héc-ta chè ở Tinh Cương — Phú Thọ dưới sự cai quan của Paul Chaffanion— nhà tư bản Pháp. Thời kỳ này, các mặt hàng về chè đã được Đông Dương xuất khẩu sang các nước như Hongkong, Pháp, Singapore và Trung Quốc. Nửa đầu thế kỷ XX, ngành chè đã bước sang một giai đoạn khởi sắc mới khi Trạm nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Phú Thọ được thành lập bởi Thống sứ Bắc Kỳ Bourcuer Saint Chaffray. Không lâu sau đó lần lượt là các trạm: “Trạm Thực nghiệm Playcu, Gia Lai Kontum (1927) và Trạm Nghiên cứu nông học Blao, Bảo Lộc Lâm Đồng (1931)”.
Đến năm 1945, hoạt động sản xuất chè bị ngưng tré do những bắt ồn trong hệ thống chính trị khi đó cho tới lúc kết thúc kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần hai nhanh chóng diễn ra và việc sản xuất chè tiếp tục suy giảm, việc đó kéo dài cho tới năm 1954, Việt Nam dành được độc lập tại các tỉnh phía Bắc và đang tích cực khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Năm 1975, khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, cũng là lúc tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế đặc biệt trong đó có ngành chẻ. Cho đến những năm gần đây, ngành chè tại Việt Nam luôn không ngừng phát triển và đạt được nhiều thành tựu nhất định.
Năm 2019 Việt Nam thuộc top 5 quốc gia có trị giá xuất khâu chè cao nhất Thế giới với giá trị xuất khẩu là 271.948 USD, chiếm 3,42% tổng giá trị xuất khâu chè của Thế giới (Tinh toán theo số liệu của OEC). Đặc biệt, chè Việt Nam luôn “on top 10” trong xuất khẩu. Kết quả này là sự nỗ lực không ngừng của đất nước đề hội nhập và thiết lập mối quan hệ ngoại giao giúp trao đổi thương mại, phát triển kinh tế. Giá trị của cây chè trong đời sống và sản xuất Chè là cây công nghiệp lâu năm có tuổi đời lên tới 600 năm đối với chè cổ thụ và 40 — 60 năm đối với chè trồng dé sản xuất.
Chúng sinh trưởng ở những nơi có lượng mưa trong năm ít nhất 127cm, thường là những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chính vì thế, tại Việt Nam các khu vực trồng chè lớn thường rơi vào khu vực Tây Bắc, Lâm Đồng và khu vực Thái Nguyên. Chè được chế biến rất đa dạng. Chang hạn như chè tươi thì thường được dùng dé pha nước.
Các cụ ông cụ bà vào mỗi sáng sớm, mang chiếc làn nhỏ ra chợ và trở về với một túi lá trà có hơi nát, sau đó mang về rửa sạch lấy tay vò rồi cho vào trong ấm. Tiếp đó, họ lấy nước sôi đồ từ từ vào, gan di 2 lần và lần thứ ba dé ủ. Từ đó, ta có được một ấm trà mau nước vàng đục hoặc nhạt tùy sở thích. Người lần đầu uống trà sẽ cảm thấy hơi chát, nhưng về sau sẽ cảm thấy được vi ngọt thanh của trà.
Bên cạnh việc chế biến bằng nước sôi thông thường, trong ngành công nghiệp, chè còn được làm thành bánh trà, chè khô, bột matcha, các loại nước trà như C2, trà xanh 0°, hay nghiền ra kết hợp với các loại thảo mộc khác trong các hộp trà như tra Lipton, tra hoa nhai, tra hoa cúc,.Chẻ con được ép lấy tinh dầu ché biến các sản phẩm như dầu gội, sữa tắm, sữa rửa mặt. Chè không chỉ được sản xuất thành nguyên liệu cung cấp trong nước, mà còn là nguyên liệu xuất khâu sang các nước khác. Chè hay trà được xuất khẩu theo nhiều hình thức khác nhau, xong có ba hình thức phô biến nhất là chè đen, chè xanh và chè nguyên liệu. Vốn là cây lâu năm, nên giá trị mà chẻ đem lại luôn được duy trì bên cạnh việc khai thác và chăm sóc hợp ly dé dat được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Các sản phẩm chè chủ lực của Việt Nam Việt Nam cung cấp ra thị trường rất nhiều loại chè khác nhau, các sản phẩm làm từ chè được xuất khẩu là Tra Tân Cương Thái Nguyên, Hong trà, Tra Shan Tuyết, Trà ướp hoa sen, Trà Hoa Lài, Trả O Long, .M6i loai tra đều có một hương vi đặc trưng và cách chê biên riêng biệt. Chè Shan Tuyết hay Trà Shan Tuyết được làm từ cây trà sống ở vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Các loại danh trà có thê kê đến như: Shan Tuyết Suối Giang (Yên Bái), Shan Tuyết Tây Côn Lĩnh (Hà Giang), Shan Tuyết Tà Xùa (Sơn La), .Chè Shan Tuyết được mệnh danh là Sản vật vô giá của người Việt bởi sự quý hiếm, hương vị và cách chế biến độc đáo. Khi pha, chúng có thể uống được 8 đến 9 nước nếu pha đúng chuẩn.
Hương vi của trà rất đặc biệt, có vị thơm độc đáo của cỏ sớm hơi sương, có vị thanh thanh và hơi ngai ngái. Chè không đắng mà có vị chát, khi huống cảm giác đọng lại trong cô họng sau đó vi ngọt bắt đầu lan tỏa. Là kết tỉnh của núi rừng nên Trà Shan Tuyết có giá không hè rẻ. Trà ủ càng lâu càng có giá.
Trà shan rẻ nhất cũng lên đến hai triệu rưỡi một cân. Trà Bạch Thiên Shan Tuyết còn có giá khoảng 9 triệu đồng một ki-lô-gram. Loại trà dat đỏ này, thường được sử dụng làm qua tặng cho giới sành trà và người với cách nói hoa mỹ là “Quy fộc ” sử dụng. Trà Tân Cương Thái Nguyên là đặc sản của tỉnh Thái Nguyên như tên gọi của nó.
Loại trà này được một người tên là Đội Năm (Mỹ Hào - Hưng Yên) lên Phú Thọ xin giống trà đem về trồng tại Thái Nguyên. Chè lại hợp với đất ở Tân Cương nên mới sinh ra thượng hiệu Trà Tân Cương Thái Nguyên như ngày nay. Thương hiệu trà này đã có mặt trên 20 quốc gia trên thế giới và có rất nhiều loại như: Trà Tân Cương Tước thiệt, Trà Búp Tân Cương, Trà móc câu Tân Cương, Trà Nõn tôm Tân Cương, Trà Dinh Tân Cương, Trà đỉnh Tân Cương Tiến vua, Trà đỉnh Tân Cuong Đại Gia, .Trà Tân Cương dat nhất rơi vào khoảng gần 4 triệu đồng một ki-lo-gram. Tuy không dat đỏ bằng Trà Shan Tuyết, nhưng với giá thành và chất lượng hợp lý nên loại trà này rất được ưa chuộng tại thị trường Việt Nam.
Nói đến trà xuất khâu thì không thé không nhắc đến Tra Den, nó còn được gọi với cái tên khác là Hồng tra. Loại trà này vô cùng được ưa chuộng trên thế giới và nó là loại trà được Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất. Trà đen được làm từ loại trà có tên gọi khoa học là Camelia Sinensis Sinensis có lá ngắn được sử dụng chủ yêu tại Trung Quốc và các quốc gia thuộc khu vực Đông A lân cận khác.