Chương I: Tổng quan cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu mặt hàng bao bì PP, PE sang thị trường EU Chương II: Cơ sở luận về xuất khẩu, cơ hội và thách thức đối với hàng bao bì PP, PE của Cppng ty Cổ phần Việt Thịnh sang thị trường EU Chương III: Thực trạng cơ hội và thách thức xuất khẩu mặt hàng bao bì PP, PE sang thị trường EU của Công ty Cổ phần Việt Thịnh 7 Chương IV: Giải pháp để Công ty Cổ phần Việt Thịnh tận dụng cơ hội và đối phó với thách thức xuất khẩu mặt hàng bao bì PP, PE sang thị trường EU 8 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HÀNG BAO BÌ PP, PE CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT THỊNH SANG THỊ TRƯỜNG EU 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm hoạt động xuất khẩu Theo điều 28, khoản 1 Luật Thương mại 2005 sửa đổi và bổ sung năm 2019 có đưa ra khái niệm: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo quan điểm của Đinh Thị Liên và các cộng sự (2021) trong Giáo trình Thương mại quốc tế: “Hoạt động thương mại hàng hóa là lĩnh vực hoạt động xuất hiện đầu tiên trong thương mại quốc tế, phát triển không ngừng và vẫn là hình thức hoạt động phổ biến và quan trọng nhất hiện nay.” Theo Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER): “Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, nó đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển. Từ hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hóa giữa các nước, cho đến nay, nó đã rất phát triển và được thể hiện thông qua nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hóa hữu hình mà cả hàng hóa vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn.” Như vậy, xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Cơ sở của xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa (bao gồm hàng hóa vô hình và hữu hình) trong nước. Cho tới khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc giữa thị trường nội địa và khu chế xuất. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu Theo giáo trình “Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế” của PGS.TS Doãn Kế Bôn, có 6 hình thức xuất khẩu cơ bản được dùng phổ biến nhất hiện nay là: 9 Xuất khẩu trực tiếp: Là hình thức các doanh nghiệp trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng và giao hàng xuất khẩu cho người mua ở thị trường mục tiêu, hai bên mua bán, trao đổi với nhau qua gặp mặt trực tiếp, qua thư từ hay điện tín để thảo luận về hàng hóa, giá cả, các điều kiện giao dịch khác và tiến hành mua bán.
Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác): Quá trình ký kết hợp đồng và làm thủ tục cần thiết để xuất khẩu được thực hiện thông qua một bên thứ ba (trung gian thương mại), phổ biến là đại lý và môi giới. Những kênh trung gian này đảm nhận vai trò tìm kiếm người mua hàng nước ngoài, vận chuyển sản phẩm và thu tiền bán. Gia công quốc tế: Là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu) từ bên đặt gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong sản xuất theo yêu cầu để hưởng thù lao. Mua bán đối lưu: Là một hình thức trao đổi hàng hóa xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu.
Khi đó, người bán cũng sẽ là người mua và người mua cũng trở thành người bán. Để thực hiện được giao dịch thì hàng hóa phải có giá trị tương đương. Tái xuất khẩu: Là xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hóa đã nhập trước đây nhưng chưa gia công, chế biến ở nước tái xuất. Phương thức tái xuất khẩu đòi hỏi nghiệp vụ của cán bộ ngoại thương rất cao, phải nhạy bén với tình hình giá cả thị trường và sự chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán.
Có hai hình thức tái xuất khẩu là hình thức chuyển khẩu và hình thức tạm nhập tái xuất. Xuất khẩu tại chỗ: Đặc điểm của loại hình này là hàng hóa được trưng bày tại các gian hàng triển lãm quốc tế, hội chợ thương mại. Theo đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không mất thời gian trong việc tìm kiếm thị trường đối tác mà khách hàng tự tìm đến các nhà xuất khẩu và xuất khẩu không cần các thủ tục hải quan, bảo hiểm, … 2. Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế, nó không những là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức các bên cả bên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh nền kinh tế phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định và từng bước 10 nâng cao mức sống của người dân.
Vì vậy, hoạt động xuất khẩu đóng góp vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp và cũng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với nền kinh tế Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tái đầu tư vào các lĩnh vực khác. Công nghiệp hóa với bước đi phù hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu nhưng công nghiệp hóa đòi hỏi phải có lượng vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến nguồn vốn nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau khi đi đầu tư nước ngoài, vay nợ, các nguồn viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, đem lại doanh thu cho doanh nghiệp. Do vậy, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, xuất khẩu tạo nên tiền đề cho xuất khẩu, quyết định đến quy mô tăng trưởng kinh tế.
Đem lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Lợi ích này mang tính vĩ mô, và cũng là yếu tố then chốt mà các quốc gia khuyến khích hoạt động xuất khẩu để đảm bảo cán cân thanh toán và tăng tích lũy và dự trữ ngoại tệ cho quốc gia. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sản xuất. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Ngoại thương cho phép một số nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiều giới hạn sản xuất của quốc gia đó, xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hóa tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia và phát triển sự phân công lao động sâu sắc tại quốc gia đó. Cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động chủ yếu cơ bản và là hình thức ban đầu thúc đẩy các mối quan hệ phát triển như là du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế và ngược lại là sự phát triển các ngành này sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển tại mối quốc gia. Xuất khẩu và sản xuất hàng hóa thúc đẩy các quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải quốc tế, … và cũng chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện để mở rộng xuất khẩu.
Đóng góp không nhỏ trong việc giải quyết vấn đề công ăn, việc làm cho người lao động. Xuất khẩu làm tăng nhu cầu về hàng hóa mà doanh nghiệp phải cung cấp, từ đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao 11 động, … Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu sử dụng lao động tăng lên, tạo thu nhập chính đáng, ổn định hơn và nâng cao đời sống của họ. Đối với doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp gia tăng doanh số và lợi nhuận bán hàng. Trong bối cảnh thị trường trong nước dần trở nên bão hòa, xuất khẩu trở thành giải pháp giúp doanh nghiệp duy trì, phát triển khi mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.
Ngoài vấn đề lợi nhuận, xuất khẩu đồng thời sẽ tạo động lực để các doanh nghiệp không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để có thể cạnh trạnh trên thị trường lớn và đa dạng hơn, với những yêu cầu, quy định khắc nghiệt hơn. Doanh nghiệp có thể đa dạng hóa thị trường đầu ra của mình. Đa dạng hóa thị trường giúp doanh nghiệp tạo ra các nguồn thu nhằm ổn định luồng tiền thanh toán cho các nhà cung cấp. Đồng thời, đa dạng hóa thị trường cũng giúp doanh nghiệp tránh phụ thuộc vào một hay một vài thị trường nào đó.
Quảng bá thương hiệu rộng rãi, trên phạm vi thế giới. Sản phẩm xuất khẩu không chỉ là thương hiệu riêng của doanh nghiệp mà còn là một thương hiệu quốc gia xét trên thị trường quốc tế. Có càng nhiều doanh nghiệp tạo tên tuổi càng khẳng định được vị thế của quốc gia. Doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc, trau dồi kinh nghiệm hoạt động, xây dựng chiến lước kinh doanh trên thị trường quốc tế.
Tiến hành hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp phải cạnh tranh và hợp tác với nhiều doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu, điều này giúp doanh nghiệp tiếp xúc với nhiều kinh nghiệm và tư duy mới từ đối tác và đối thủ - điều mà thị trường nội địa không thể mang lại. Mặt khác, thị trường quốc tế là một thị trường vô cùng rộng lớn, nó chứa đựng nhiều cơ hội cũng như nhiều rủi ro, những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này nếu thành công có thể nâng cao thể lực, uy tín doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Qua các hợp đồng làm ăn kinh tế có mối quan hệ của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, củng cố, góp phần thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu thông qua đáp ứng lợi ích của các doanh nghiệp và các quốc gia. Xuất khẩu thúc đẩy sản xuất trong nước thông qua khuyến khích việc tận dụng lợi thế tuyệt đối cũng như lợi thế so sánh của các nước.