phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng chính với nội dung nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo - Chƣơng 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo trên địa bàn quận Tân Bình thời gian từ năm 2010 - 2016. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo trên địa bàn quận Tân Bình 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO 1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quảng cáo 1. Khái niệm về quảng cáo Quảng cáo có lịch sử phát triển lâu đời, phạm vi ứng dụng rộng nên quan niệm, định nghĩa về quảng cáo có nhiều, rất đa dạng.
Nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, lĩnh vực, ngành nghề mà ngƣời ta muốn hƣớng tới, mức độ sử dụng các phƣơng tiện thông tin trong truyền bá quảng cáo. Mục đích của quảng cáo là thu lợi nhuận, tuy nhiên nội dung, hình thức thể hiện trên các sản phẩm quảng cáo lại mang tính chất của thông tin, văn hóa nhằm biểu đạt nội dung của quảng cáo đến ngƣời tiêu dùng. Đây là những đặc trƣng rất cơ bản của quảng cáo, nhƣ là một ngành kinh tế xã hội, một hoạt động văn hóa sâu sắc. Hiện nay, trên thế giới, quảng cáo đã trở thành một ngành công nghiệp độc lập và lan rộng, phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới; trở thành công cụ quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất - tiêu dùng của nền kinh tế.
Tại Việt Nam, hoạt động quảng cáo chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ, sôi động và đa dạng sau những năm 90, khi kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp kết thúc, xác lập nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay, quảng cáo đã trở thành hoạt động không thể thiếu của các công ty, doanh nghiệp để tiếp cận ngƣời tiêu dùng và bản thân ngƣời tiêu dùng cũng thông qua quảng cáo để biết tới các sản phẩm, dịch vụ. Quảng cáo không chỉ góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế đất nƣớc mà còn hàm chứa và phản ánh những giá trị văn hóa, thị hiếu thẩm mỹ của cộng đồng, dân tộc. Nhờ vậy, quảng cáo giúp duy trì và phát triển những 9 giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của cộng đồng, dân tộc.
Vì thế, quảng cáo có vai trò quan trọng với đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nƣớc. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, quảng cáo cũng ngày càng phát triển và khái niệm quảng cáo cũng mở rộng. Quảng cáo là một hoạt động kinh tế nhƣng cũng đồng thời là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Mỗi hình ảnh quảng cáo là một tác phẩm hội họa, mỗi sản phẩm quảng cáo trên truyền hình là một đoạn phim ngắn.
Quảng cáo đã sáng tạo ra thứ ngôn ngữ riêng của nó, cô đọng nhƣng nói đƣợc nhiều nhất. Vậy quảng cáo là gì? Dƣới những góc độ nghiên cứu khác nhau, ngƣời ta đƣa ra những khái niệm quảng cáo khác nhau. Theo Từ điển quảng cáo thì “ Quảng cáo là một loại thông tin phải trả tiền, có tính đơn phƣơng, không dành cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và phƣơng tiện thông tin đại chúng nhằm hỗ trợ cho một sản phẩm, một nhãn hiệu, một xí nghiệp, một mục đích hoặc một tổ chức nào đó… đƣợc nêu danh trong quảng cáo” [22]. Theo Hiệp hội Quảng cáo Hoa Kỳ (AAA), “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của chủ quảng cáo, trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích ngƣời khác”.
Còn Armand Dayan, tác giả cuốn Nghệ thuật quảng cáo lại có cách nhìn nhận riêng của mình. Theo ông, “Quảng cáo là một phƣơng thức tuyên truyền, thông qua những phƣơng tiện trung gian nhất định để truyền đạt một cách có kế hoạch đến mọi ngƣời về chất lƣợng của hàng hóa và tính hữu dụng của loại hàng hóa đó nhằm mở rộng tiêu thụ, bán hàng, tạo dƣ luận”. Luật Quảng cáo của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012 định nghĩa “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin 10 cá nhân”. Khó có thể liệt kê hết các khái niệm về quảng cáo, nhƣng nhìn chung qua các khái niệm đó ngƣời ta đều thấy quảng cáo có những đặc điểm chung sau đây: Thứ nhất, quảng cáo là thông tin hướng tới khách hàng và thường nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Các doanh nghiệp thông qua quảng cáo để giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng. Mục tiêu của họ không gì hơn là để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, tức là nhằm tăng lợi nhuận. Chúng ta vẫn thƣờng bắt gặp các loại quảng cáo có thể không nhằm mục tiêu lợi nhuận nhƣ thông báo, rao vặt. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trƣờng, loại thông tin phục vụ cho mục tiêu lợi nhuận phổ biến và thƣờng xuyên hơn rất nhiều.
Thứ hai, quảng cáo không dành riêng cho một cá nhân cụ thể nào. Các doanh nghiệp quảng cáo luôn muốn có thật nhiều ngƣời chú ý đến sản phẩm quảng cáo của mình. Một sản phẩm khó có thể phù hợp với tất cả ngƣời tiêu dùng, vì thế một sản phẩm quảng cáo cũng thƣờng chỉ hƣớng tới những khách hàng tiềm năng của đối tƣợng mà nó đang quảng cáo. Tuy nhiên, rõ ràng quảng cáo không đƣợc gửi tới một cá nhân cụ thể nào.
Đây là điểm phân biệt quảng cáo với chào hàng vì khi một thƣơng nhân đƣa ra một chào hàng thì anh ta bị ràng buộc đối với những cam kết mình đƣa ra trong thời hạn hiệu lực của chào hàng. Thứ ba, quảng cáo phải qua phương tiện trung gian. Đặc điểm này đƣợc coi là một thế mạnh rất lớn của quảng cáo. Quảng cáo có thể đƣợc tiến hành với nhiều hình thức, qua nhiều phƣơng tiện khác nhau, nhờ đó có thể tạo đƣợc sự tác động sâu rộng tới nhiều đối tƣợng.
Với cách tiếp cận khách hàng vô cùng phong phú, quảng cáo mang lại hiệu quả rất lớn. Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính 1. Khái niệm vi phạm hành chính 11 Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến hàng ngày trong đời sống xã hội, từ những hành vi nhỏ nhƣ vứt rác không đúng nơi, đúng chỗ, đến những hành vi có tính chất, mức độ lớn hơn nhƣ điều khiển môtô, xe máy đi vào đƣờng một chiều, vƣợt đèn đỏ, hoặc những hành vi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhƣ tiến hành kinh doanh mà không đăng ký theo quy định của pháp luật, trốn thuế, thay đổi trụ sở của doanh nghiệp mà không thông báo, hay những hành vi trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng nhƣ vận chuyển và xử lý chất thải, các chất gây ô nhiễm môi trƣờng không đúng theo quy định về bảo vệ môi trƣờng; những hành vi trong lĩnh vực thƣơng mại nhƣ xuất nhập khẩu hàng hóa không đúng giấy phép. Hành vi vi phạm hành chính từ trƣớc tới nay đã đƣợc quy định ở nhiều văn bản khác nhau trong đó, một số văn bản đáng chú ý nhƣ: - Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo nghị định 143/CP/ ngày 27/5/1971 của Hội đồng Chính phủ.
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 có hiệu lực từ ngày 1/1/1990 do Hội đồng nhà nƣớc ban hành. - Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6/7/1995 do Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành , có hiệu lực từ ngày 1/8/1995. Tuy nhiên, chỉ có pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 mới đƣa ra định nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quy tắc quản lý hành chính nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà 12 không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Tóm lại, các văn bản trên về định nghĩa vi phạm hành chính tuy có sự khác nhau về sự diễn đạt nhƣng đều thống nhất các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính: Tính trái pháp luật, tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nƣớc, tính có lỗi và phải bị xử phạt hành chính. Đặc điểm vi phạm hành chính Hành vi vi phạm pháp luật thể hiện rất đa dạng, phong phú, ở hầu hết các lĩnh vực của quản lý nhà nƣớc, song đều có chung một số đặc điểm sau: Một là, vi phạm hành chính đều là hành vi trái pháp luật, xâm phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc. Hai là, chủ thể của hành vi vi phạm hành chính là do cá nhân, tổ chức thực hiện do cố ý hoặc vô ý. Đối với tổ chức, thì hành vi này đƣợc thực hiện bởi cá nhân nhƣng dƣới danh nghĩa tổ chức (do tổ chức giao, phân công hoặc thực hiện hành vi nhân danh tổ chức đó).
Các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức vi phạm hành chính là pháp nhân, tổ hợp tác và hộ gia đình theo quy định của Bộ luật dân sự thực hiện hành vi vi phạm hành chính.