ĐẶT VẤN ĐỀ Sự phát triển kinh tế hiện nay đã mang lại thành tựu to lớn , tạo ra khối lượng của cải nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Song bên cạnh sự phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, thiếu bền vững cũng là một đe doạ lớn gây ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, mất cân bằng sinh thái,… Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tốc độ tăng trưởng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt bình quân 7,0 ÷ 8,0%/ năm trong những năm 2005 – 2008. Trong đó ngành thuỷ sản, nhất là chế biến thuỷ_hải sản cũng là ngành có tốc độ phát triển nhanh, mở rộng mặt hàng phổ biến làm tăng giá trị sản phẩm thuỷ_hải sản. Tuy nhiên , ngành chế biến thuỷ_hải sản cần nhu cầu một lượng nước lớn kèm theo hàng loạt chất thải rắn, khí thải, nước thải trong quá trình chế biến gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến đời sống con người và môi trường sống của các loài thuỷ sinh.
Đồng thời ô nhiễm môi trường trong chế biến thuỷ_hải sản còn làm giảm chất luợng sản phẩm và sức cạnh tranh của ngành này. Đây là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý môi trường cũng như các nhà sản xuất ngành thuỷ sản. Do đó việc nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải trong chế biến thuỷ_hải sản là một yêu cầu cấp thiết đặt ra không chỉ đối với những nhà làm công tác bảo vệ môi trường mà còn cho tất cả mọi người chúng ta. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG LUẬN VĂN 1.
Mục tiêu Nghiên cứu và đề xuất công nghệ xử lý nước thải nhà máy Chế biến thuỷ hải_sản xuất khẩu Ninh Thuận tại tỉnh Ninh Thuận, nhằm giảm thiểu tác động của các chất thải lên môi trường xung quanh trong điều kiện phù hợp với thực tế của nhà máy. Nội dung - Thu thập số liệu, tài liệu, đánh giá tổng quan về công nghệ sản xuất, các tác động gây ô nhiễm môi trường và các phương pháp xử lý nước thải trong ngành chế biến thuỷ_hải sản nói chung. 1 - Khảo sát, thu thập số liệu cần thiết có liên quan đến xử lý môi trường của nhà máy Chế biến thuỷ_hải sản xuất khẩu Ninh Thuận. - Lựa chọn công nghệ và thiết bị xử lý thích hợp với điều kiện xả thải theo quy định và phù hợp với tình hình tài chính của nhà máy.
- Xây dựng kế hoạch quản lý và vận hành hệ thống xử lý nước thải. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Các tài liệu được cung cấp trong quá trình học tập, sưu tầm tài liệu, sưu tầm trên internet. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Điều tra khảo sát, thu thập số liệu, tài liệu có liên quan. tham quan, học hỏi kinh nghiệm … 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THUỶ_HẢI SẢN VÀ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 2.
GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THUỶ _ HẢI SẢN VIỆT NAM Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc và bờ biển dài tạo điều kiện cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy_hải sản, cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngành chế biến thủy_hải sản xuất khẩu. Nguồn nguyên liệu chính cho ngành chế biến thủy_hải sản chủ yếu là cá và tôm. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 70% diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước và là vùng cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho ngành. Hiện nay thị trường chính của ngành chế biến thủy_hải sản xuất khẩu chính của Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ, Châu Á, EU.
Năm 2007, cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam như sau: Nhật bản chiếm 19%, EU chiếm 25%, Mỹ chiếm 20%, Châu Á (trừ Nhật Bản và ASEAN) chiếm 14,7%, còn lại là các thị trường khác. Kết thúc năm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 3,75 tỉ USD (tăng gần 12% so với năm 2006), đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 nước có sản lượng thủy_hải sản xuất khẩu lớn nhất thế giới. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NGÀNH SẢN XUẤT THUỶ_HẢI SẢN VIỆT NAM Các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu trong các công ty chế biến thuỷ_hải sản được chia làm 3 loại chủ yếu: chất thải rắn, lỏng, khí. Ngoài ra còn có những ô nhiễm khác như: tiếng ồn, độ rung và các chất phát sinh trong cháy nổ do hoạt động của các thiết bị điện, động cơ phương tiện vận chuyển và sản xuất.
Chất thải rắn Chất thải rắn sinh ra trong quá trình chế biến tồn tại dưới dạng vụn thừa : tạp chất , đầu , đuôi , ruột, xương, vẩy ,… Phần lớn các chất này được tận dụng lại để chế biến 3 thành thức ăn gia súc, phân bón. Tuy nhiên, vẫn còn sót lại một lượng chất thải rắn trôi theo dòng nước thải do quá trình làm vệ sinh nhà xưởng không kỹ, lượng chất thải này có thể là nguồn gây ô nhiễm không khí do mùi từ chúng bốc lên, gây khó chịu và ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân trong công ty và cư dân ở khu vực lân cận. Nước thải Cùng với sự phát triển thì ngành chế biến thủy _hải sản cũng đưa vào môi trường một lượng nước thải khá lớn, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước. Nước thải ngành này chứa phần lớn các chất thải hữu cơ có nguồn gốc từ động vật và có thành phần chủ yếu là protein và các chất béo.
Trong hai thành phần này, chất béo khó bị phân hủy bởi vi sinh vật. Khí thải Khí thải sinh ra từ các lò đốt (lò đốt dầu của lò hơi), máy phát điện có chứa các chất gây ô nhiễm như : NO 2 , SO 2 , bụi với mức độ ô nhiễm dao động theo thời gian và mức độ vận hành theo lò hơi. Tuy vậy, các chất ô nhiễm này đều có nồng độ nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5937 - 2005). Trong ngành chế biến thủy_hải sản, các chất gây ô nhiễm không khí khá đặc trưng đó là H 2 S với nồng độ có khả năng đạt từ 0,2 – 0,4 mg/m3, sinh ra ch ủ yếu từ sự phân huỷ các chất thải rắn (đầu, ruột, vẩy,…), vi khuẩn và NH 3 sinh ra từ nguyên liệu thủy sản hoặc do sự thất thoát từ các máy nén khí của các thiết bị đông lạnh.
Các khí này có đặc điểm không phát tán đi xa nên mức độ ô nhiễm chỉ giới h ạn trong phạm vi nhỏ. Nhìn chung, nồng độ các chất gây ô nhiễm kh ông khí của ngành chế biến thủy_ hải sản ở mức độ nhẹ và có thể khắc phục. CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO NGÀNH CHẾ BIẾN THUỶ _ HẢI SẢN 2. Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học Phương pháp xử lý cơ học nhằm loại bỏ các hợp chất không hoà tan chứa trong nước thải và được thực hiện bởi: Song chắn rác, bể lắng cát, bể lắng, bể lọc các loại.
Song chắn rác Song chắn rác nhằm chắn giữ các cặn bẩn có kích thước lớn hay ở dạng sợi: giấy, rau, cỏ, rác … được gọi chung là rác. Rác được chuyển tới máy nghiền để nghiền nhỏ, sau đó đổ trở lại trước song chắn rác hoặc chuyển tới bể phân huỷ cặn (bể mêtan). Đối với các tạp chất < 5 mm thường dùng lưới chắn rác. Cấu tạo của thanh chắn rác gồm các thanh kim loại tiết diện chữ nhật, hình tròn hoặc bầu dục.
Song chắn rác được chia 4 làm 2 loại di động hoặc cố định. Song ch ắn rác được đặt nghiêng một góc 60 – 90o theo hướng dòng chảy. Bể lắng cát Bể lắng cát dùng để tách các chất bẩn vô cơ có trọng lượng riêng lớn hơn nhiều so với trọng lượng riêng của nước như xỉ than, cát, mảnh vỡ thuỷ tinh, mảnh kim loại… ra khỏi nướ c thải. Cát từ bể lắng cát đưa đi phơi khô ở sân phơi và cát khô thường được sử dụng lại cho những mục đích xây dựng.
Bể lắng cát gồm 3 loại: bể lắng cát ngang, bể lắng cát thổi khí, bể lắng cát ly tâm. Bể điều hoà Do đặc điểm công nghệ sản xuất của một số ngành công nghiệp, lưu lượng và nồng độ nước thải thường không đều theo các giờ trong ngày đêm. Sự dao động lớn về lưu lượng và nồng độ dẫn đến những hậu quả xấu về chế độ công tác của mạng lưới và các công trình xử lý. Do đó bể điều hoà đ ược dùng để duy trì dòng thải và nồng độ vào công trình xử lý ổn định, khắc phục những sự cố vận hành do sự dao động về nồng độ và lưu lượng của nước thải gây ra và nâng cao hiệu suất cùa các quá trình xử lý sinh học.
Bể điều hoà được phân loại như sau: bể điều hoà lưu lượng, bể điều hoà nồng độ và bể điều hoà cả lưu lượng và nồng độ. Bể lắng Bể lắng dùng để tách các chất lơ lửng có trọng lượng riêng lớn hơn trọng lượng riêng của nước. Chất lơ lửng nặng hơn sẽ từ từ lắng xuống đáy, còn chất lơ lửng nhẹ hơn sẽ nổi lên mặt nước. Dùng những thiết bị thu gom và vận chuyển các chất bẩn lắng và nổi (ta gọi là cặn ) tới công trình xử lý cặn.
- Dựa vào chức năng , vị trí có thể chia bể lắng thành các loại : bể lắng đợt 1 trước công trình xử lý sinh học và bể lắng đợt 2 sau công trình xử lý sinh học. - Dựa vào nguyên tắc hoạt động, người ta có thể chia ra các loại bể lắng như : bể lắng hoạt động gián đoạn hoặc bể lắng hoạt động liên tục. - Dựa vào cấu tạo có thể chia bể lắng thành các loại như sau : bể lắng đứng , bể lắng ngang, bể lắng ly tâm và một số bể lắng khác. • Bể lắng đứng Bể lắng đứng có dạng hình tròn hoặc hình chữ nhật trên mặt bằng.
Bể lắng đứng thường dùng cho các trạm xử lý có công suất dưới 20. Nước thải được dẫn vào ống trung tâm và chuyển động từ dưới lên theo phương thẳng đứng. Vận tốc dòng nước chuyển động lên phải nhỏ hơn vận tốc của các hạt lắng. Nước trong được 5 tập trung vào máng thu phía trên.
Cặn lắng được chứa ở phần hình nón hoặc chóp cụt phía dưới. • Bể lắng ngang Bể lắng ngang có hình dạng chữ nhật trên mặt bằng, tỷ lệ giữa chiều rộng và chiều dài không nhỏ hơn 1/6 và chiều sâu đến 4m. Bể lắng ngang dùng cho các trạm xử lý có công suất lớn hơn 15.