CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 1.1 Những nghiên cứu liên quan về bản chất, vị trí, vai trò, sự vận động và phát triển của kinh tế hộ gia đình nông thôn Việt Nam Tác giả Chu Văn Vũ đã phân tích một cách có hệ thống kinh tế hộ nông thôn Việt Nam trong tác phẩm “Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội năm 1995. Trong tác phẩm này tác giả đã làm khá rõ cơ sở lý luận của kinh tế hộ nông thôn. Đồng thời tác giả cũng phân tích các đặc trưng của kinh tế hộ nông thôn Việt Nam cả về mặt quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Những đặc trưng chủ yếu như kinh tế nông hộ dựa trên quan hệ gia đình, quan hệ tổ chức giản đơn, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công cụ sản xuất lạc hậu, thô sơ, năng suất lao động thấp, thường xuyên thiếu vốn để mở rộng sản xuất, ….
Đặc trưng của kinh tế hộ nông thôn cũng khác nhau ở tính vùng miền, như miền Nam thì mang tính chất sản xuất hàng hóa, miền Bắc thì vẫn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Trong tác phẩm “Kinh tế hộ gia đình ở miền Núi” của tác giả Ngô Đức Mạnh do Nxb Nông nghiệp, Hà Nội xuất bản năm 2000 đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kinh tế hộ gia đình ở miền Núi Việt Nam. Trong tác phẩm này tác giả đã phân tích những đặc điểm của kinh tế hộ gia đình hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp ở vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên và tập trung phân tích tính chất nhỏ, lẻ và xu hướng chuyển tự sản xuất tự cung, tự cấp sang hướng sản xuất hàng hóa của khu vực kinh tế này trong những năm đầu của công cuộc đổi mới kinh tế, chuyển từ mô hình kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần kinh tế có sự quản lý của Nhà nước, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Trong tác phẩm “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay” của các tác giả Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002, đã tập trung phân tích vị trí, vai trò và sự phát triển của kinh tế 13 hợp tác trong nền nông nghiệp Việt Nam và cho rằng: Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan, là con đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân, bởi lẽ do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, nhất là trong nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, quá trình phân công lao động xã hội trong nông nghiệp ngày càng sâu sắc, cùng với chuyên môn hóa ngày càng cao nảy sinh các chuyên ngành trong sản xuất nông nghiệp và xuất hiện các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp thì từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp hơn so với hợp tác.
Vì vậy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế người nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn cho đến phức tạp, từ đơn ngành cho đến đa ngành. Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác càng sâu rộng. Nhóm tác giả cũng khẳng định, trong điều kiện hiện nay, phải tuân thủ quan điểm phát triển kinh tế hợp tác trên cơ sở tôn trọng tính độc lập tự chủ của kinh tế hộ và trang trại gia đình với tư cách là các đơn vị kinh tế cơ sở, tế bào kinh tế - xã hội ở nông thôn. Trong tác phẩm “Một số vấn đề sở hữu ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004, các tác giả Nguyễn Văn Thạo và Nguyễn Hữu Đạt trên cơ sở làm rõ về mặt lý luận phạm trù sở hữu dưới các góc độ vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù pháp luật.
Dưới hàm nghĩa phạm trù kinh tế, sở hữu biểu hiện các quan hệ sản xuất, phương thức chiếm hữu và phân phối trong từng hình thái kinh tế - xã hội và quan hệ xã hội nhất định. Dưới hàm nghĩa phạm trù pháp luật, sở hữu được pháp luật điều chỉnh trở thành các quan hệ pháp luật. Sự thể chế hóa đó có nghĩa là các nhà nước chính thức thừa nhận các quan hệ, các lợi ích kinh tế của chủ sở hữu đối với các đối tượng sở hữu, trở thành quyền sở hữu. Từ đó các tác giả phân tích các loại hình sở hữu tồn tại trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam: Sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp và khẳng định, trong thời kỳ quá độ ở nước ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế do còn tồn tại nhiều loại hình sở hữu phản ánh nhiều loại trình độ sản xuất khác nhau.
Trong thực tế các thành phần kinh tế 14 đó là: Kinh tế nhà nước (dựa trên sở hữu nhà nước); kinh tế tập thể (dựa trên sở hữu tập thể); kinh tế tư nhân (dựa trên sở hữu tư nhân) và kinh tế có vốn nước ngoài (dựa trên sở hữu tư nhân nước ngoài). Các tác giả cũng phân tích quá trình xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam, một thể chế đặc biệt đối với đất đai chỉ có ở Việt Nam hiện nay, đã được hiến định trong Hiến Pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước Việt Nam là người đại diện của sở hữu toàn dân thực hiện quyền sở hữu bằng cách giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng. Nhà nước không có quyền mua bán đất đai với tư cách là người chủ sở hữu, bởi vì Nhà nước không phải là người chủ sở hữu đất đai, người chủ sở hữu thực sự đất đai là toàn dân Việt Nam. Ở Việt Nam không tồn tại thị trường đất đai, thực chất chỉ là thị trường mua bán “quyền sử dụng đất”, đó là sự thay đổi người sử dụng đất đai chứ không phải thay đổi người chủ sở hữu đất đai.
Chế độ giao quyền sử dụng đất được quy định trong Luật đất đai và tùy theo đối tượng và mục đích sử dụng đất mà giao quyền sử dụng đất có thời hạn và giao quyền sử dụng lâu dài. Chế độ giao quyền sử dụng đất trong Luật đất đai cũng bao hàm quy định về quy mô số lượng đất đai được Nhà nước giao quyền sử dụng, còn được gọi là “hạn điền”, đây là vấn đề còn nhiều tranh cãi khi bàn về các giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Nghiên cứu dưới góc độ quan hệ xã hội của kinh tế hộ gia đình nông thôn có tác phẩm “Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Đức Truyến, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2003. Trong tác phẩm này tác giả đã khẳng định: Kinh tế hộ gia đình nông dân với tư cách là một hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp đặc thù dựa trên các quan hệ gia đình, thể hiện vai trò của nó trong việc tổ chức gia đình thành một đơn vị sản xuất độc lập, với những hình thức phân công lao động chủ yếu dựa trên năng lực và tính tự giác của mỗi thành viên, trên sự kết hợp duy lý các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp và công việc gia đình.
Trên tinh thần phân tích các mối quan hệ nội tại của kinh tế hộ gia đình nông thôn, tác giả khẳng định rằng sự thể chế hóa các vai trò và quan hệ giữa các vai trò trong kinh tế hộ gia đình, chính là sự thể 15 chế hóa các quan hệ gia đình trên bình diện xã hội, đạo đức hay văn hóa. Tuy nhiên, tác giả qua nghiên cứu thực tế quá trình vận động và phát triển của kinh tế hộ gia đình ở nông thôn Đồng bằng sông Hồng đã nhận thấy, kinh tế hộ gia đình nông thôn trong thời kỳ đổi mới đã có những xu hướng vận động mới dựa trên các quan hệ hàng hóa, quan hệ thị trường chứ không còn đơn thuần là hộ kinh tế gia đình dựa trên các quan hệ hiện vật như trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Tác giả Lâm Quang Huyên với tác phẩm “Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Việt Nam”, được Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản vào năm 2004 đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa kinh tế hợp tác và kinh tế nông hộ ở Việt Nam dưới góc nhìn lịch sử. Tác giả cho thấy cơ sở lý luận và thực tiễn chứng minh kinh tế hợp tác trong nông nghiệp đã thể hiện vai trò tích cực trong lịch sử kinh tế ở miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ đất nước thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trong tác phẩm này, tác giả đánh giá tính ưu việt của phong trào hợp tác hóa trong nông nghiệp, nông thôn Miền Bắc đã góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc khi đưa người nông dân cá thể đi vào làm ăn tập thể, sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước, từ đó, vừa thực hiện nhiệm vụ cải tạo quan hệ sản xuất xã hội ở nông thôn theo hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát triển lực lượng sản xuất xã hội nông nghiệp, làm tiền đề cho thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong tác phẩm này, tác giả cũng tập trung phân tích những ưu và khuyết điểm của phong trào hợp tác hóa trong thời gian hòa bình thống nhất đất nước trên cả nước khi việc duy trì kinh tế hợp tác theo kiểu cũ quá lâu đã không còn phù hợp và cản trở sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng phân tích, đánh giá sự cần thiết tồn tại và những ưu nhược điểm của kinh tế hộ nông nghiệp trong nông thôn nước ta trong nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.