CHƯƠNG 1: PHẦN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm chung 1.1 Thời trang nhanh (Fast fashion) Khái niệm thời trang nhanh theo nghiên cứu về “Nhận thức về ảnh hưởng của thời trang nhanh tới môi trường” của Ha Thi Hong Hanh (2022): “Thời trang nhanh là thuật ngữ được sử dụng để chỉ dòng thời trang giá rẻ được sản xuất bởi các nhãn hàng thời trang thông dụng dựa trên những ý tưởng, thiết kế từ các bộ trang phục trên sàn catwalk hay của các thương hiệu thời trang nổi tiếng, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng. Hiểu theo cách khác, thời trang nhanh là các thiết kế, sản xuất và giải pháp tiếp thị tập trung vào việc sản xuất số lượng lớn quần áo trong thời gian ngắn. Sản xuất hàng may mặc thời trang nhanh tận dụng sự sao chép thiết kế xu hướng với chất liệu vải chất lượng thấp (như vải tổng hợp) để mang lại quần áo giá rẻ cho khách hàng cuối cùng (Audrey Stanton, 2023). Thời trang nhanh còn là một phản ứng sản xuất đối với nhu cầu mới của người tiêu dùng.
(Barnes và Lea-Greenwood, 2006) Solene Rauturier (2022) khẳng định: “Thời trang nhanh là một hiện tượng tương đối mới trong ngành gây thiệt hại lớn cho hành tinh, bóc lột công nhân và gây hại cho động vật. Vậy thời trang nhanh được hiểu như là thuật ngữ nói về dòng thời trang giá rẻ được sản xuất dựa trên việc sao chép các thiết kế thời trang trên sàn catwalk hay thương hiệu có đăng ký sở hữu trí tuệ. Cùng với chất liệu vải chất lượng thấp và thời gian sản xuất, sử dụng ngắn gây thiệt hại lớn cho hành tinh, bóc lột công nhân và gây hại cho động vật.2 Thế hệ Z (Gen Z) Theo Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng (2021): “Thế hệ Z (Post Millennials/the iGeneration/the Homeland Generation) là đoàn hệ nhân khẩu học sau The Millennials”. Thực tế chưa có nghiên cứu nào xác nhận chính xác ngày bắt đầu và kết thúc thế hệ.
Tuy nhiên, một số trong chúng ta mặc định Thế hệ Z bắt đầu từ năm 1995, một số 4 khác lại cho rằng bắt đầu từ năm 2005. Sau khi tổng hợp các bài nghiên cứu khác nhau đã rút ra kết luận trong phạm vi nghiên cứu rằng Thế hệ Z là những người sinh từ năm 1995 đến 2012 (Bassiouni và Hackley, 2014). Bài nghiên cứu này nhắm đến đối tượng Thế hệ Z là những người sinh từ năm 1997 đến 2008.3 Thời trang bền vững (Sustainable fashion) Người tiêu dùng và các tổ chức vi mô đều xác định thời trang bền vững là sản phẩm được sản xuất tại địa phương, liên quan đến các khía cạnh của điều kiện làm việc tốt, tiền lương công bằng và giảm lượng khí thải carbon (Henninger, 2016). Một cách hiểu khác, thời trang bền vững chỉ đơn giản là thúc đẩy ngành công nghiệp thời trang có cách tiếp cận lâu dài đối với thiết kế, sản xuất và tiêu thụ quần áo với phụ kiện.
Đó là ngành thời trang có đạo đức và tránh gây hại cho con người hay động vật (Hannah Lang, 2021) Để tạo thói quen từ việc sử dụng thời trang nhanh thành sử dụng thời trang bền vững là vấn đề mà các nhà nghiên cứu luôn nan giải. Bởi thói quen sử dụng thời trang bền vững chỉ có ở những người thật sự quan tâm đến môi trường, những người hiểu rõ ý nghĩa của thời trang bền vững.4 Thời trang tuần hoàn (Circle fashion) Thời trang tuần hoàn là thuật ngữ chỉ vừa xuất hiện vào năm 2014 (Clare Lissaman, 2019). Ngành công nghiệp thời trang tuần hoàn là ngành trong đó chất thải và ô nhiễm được loại bỏ, các sản phẩm và vật liệu được duy trì sử dụng càng lâu càng tốt, bao gồm cả việc tái sử dụng và tái chế, đồng thời tái tạo các hệ thống tự nhiên. Ngành kinh tế thời trang hiện nay dựa vào mô hình đường thẳng, nghĩa là thiết kế các sản phẩm chất lượng tốt nhưng cuối cùng vẫn là những bộ quần áo bị vứt bỏ.
Còn thời trang tuần hoàn dựa vào mô hình hình tròn, nghĩa là các thiết kế quần áo được tách ra từng phần (các chi tiết trang trí có thể tách rời dễ dàng) và cuối cùng là tái chế phục vụ cuộc sống. Hiểu đơn giản, thời trang tuần hoàn nói không với rác thải thời trang (Clare Lissaman, 2019).2 Trình bày về tiến trình nghiên cứu Marketing Tiến trình nghiên cứu Marketing gồm 6 bước: Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu - Vấn đề ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người do thời trang nhanh đang ở mức báo động. - Người tiêu dùng tiết kiệm tiền để mua các sản phẩm thời trang giá rẻ nhưng lại không nhận thức được số lượng rác thời trang, nạn bóc lột sức lao động, mua rồi dùng trong thời gian ngắn. - Thị trường thời trang nhanh phát triển vô cùng mạnh tại Việt Nam, đặc biệt là trung tâm cả nước – Thành phố Hồ Chí Minh.
Bước 2: Xác định mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các tác hại mà thời trang nhanh đã ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe, sức lao động, gây lãng phí và xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục giúp giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận thức vấn đề và sử dụng thời trang có chọn lọc hơn. Mục tiêu cụ thể: Xác định các thực trạng được gây nên bởi xu hướng sử dụng thời trang nhanh của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phân tích các thực trạng mà thời trang nhanh gây nên: Tác động tiêu cực đến môi trường Hiện tượng lãng phí Sức khỏe con người Bóc lột sức lao động Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Thống kê mô tả và đánh giá mức độ ảnh hưởng của thời trang nhanh đối với các thực trạng trên. Đề ra các giải pháp hợp lý để chấm dứt thực trạng trong thời gian sớm nhất.
6 Bước 3: Các giả thuyết nghiên cứu Dựa vào cơ sở lý thuyết và các giả thuyết liên quan, đề xuất 5 giả thuyết nghiên cứu: - Tác động tiêu cực đến môi trường - Sức khỏe con người - Hiện tượng lãng phí - Bóc lột sức lao động - Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Bước 4: Thu thập dữ liệu - Thiết kế bảng câu hỏi dễ hiểu, chi tiết - Bắt đầu thu thập dữ liệu qua Google Forms sau khi điều tra thử Bước 5: Chuẩn bị và thống kê mô tả Làm sạch dữ liệu và tính tần số, giá trị trung bình và xuất ra biểu đồ. Bước 6: Trình bày kết quả Báo cáo kết quả và trình bày các vấn đề nghiên cứu như nhận thức của Thế hệ Z về thực trạng sử dụng sản phẩm thời trang nhanh và tương lai nào cho thời trang bền vững và tuần hoàn.3 Thực trạng về vấn đề nghiên cứu 1.1 Tác động tiêu cực đến môi trường Ngành công nghiệp thời trang, đứng thứ hai thế giới với tư cách là ngành gây ô nhiễm môi trường sau ngành dầu mỏ, mỗi năm hàng triệu tấn quần áo từ các ngành công nghiệp thời trang thải ra do lỗi mốt, chạy theo mẫu mã mới khiến cho chu kỳ sử dụng thời trang nhanh chỉ hơn một tháng, việc đào thải và sản xuất liên tục khiến hệ sinh thái và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Lượng năng lượng và nước mà ngành thời trang tiêu thụ ước tính khoảng 93 tỷ mét khối mỗi năm và tạo ra tới 18% lượng khí thải CO2 toàn cầu gây ra hiệu ứng nhà kính (Phương An, 2022). Sợi có nguồn gốc từ dầu thô như sợi acrylic, các sợi tổng hợp (như là polyester và nylon) có mặt trong 72% số quần áo chất liệu tác động xấu đến 7 môi trường (Trung Hiếu, 2019), khả năng tự phân hủy kém, sản xuất nylon tạo ra nitrous oxide là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn cả carbon dioxide (CO2) tới hàng trăm lần.700 lít nước để sản xuất một chiếc áo thun và 7.000 lít nước để tạo ra một cái quần jeans (Thu Uyên, 2022).
Lượng nước thải của ngành công nghiệp thời trang chiếm tới 20% tổng lượng nước thải trên thế giới (Phương An, 2022). Nước thải do nhuộm vải gây ô nhiễm mực nước ngầm, chảy ra sông và đại dương. Nước thải này chứa các hóa chất độc hại chưa qua xử lý được đổ ra môi trường gây hại cho sức khỏe con người. Mỗi năm 85% hàng dệt may đi đến các bãi chôn lấp trong khi giặt quần áo thải ra 500.000 tấn sợi nhỏ vào đại dương - tương đương với 50 tỷ chai nhựa (Imogen Watson, 2021).
Việc chôn rác thải của ngành thời trang làm rò rỉ hóa chất vào đất, ô nhiễm không khí. Làm suy yếu tài nguyên đất, nhu cầu thời trang tăng cao sẽ dẫn đến việc chăn thả cừu quá mức trên các đồng cỏ khiến đất bị xói mòn, xuống cấp trầm trọng. Vải được tổng hợp từ bột gỗ dẫn đến nạn phá rừng, phá rừng để nuôi gia súc lấy da làm ra sản phẩm thời trang. Năm 2017 theo báo cáo của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) có khoảng 35% hạt vi nhựa trong đại dương là do quá trình xả nước giặt các loại vải tổng hợp như polyester ra sông ngòi (Minh Tiến, 2023).
Vào năm 2018, sự phát triển nhanh chóng của thời trang song song đó cũng là sự suy sụp của môi trường trên 10 triệu tấn chất thải dệt may đã được đưa đến các bãi rác thải, chúng có thể mất hơn 150 năm để phân hủy (Bảo Nga, 2021). Cho đến nay, 84% số quần áo đó cuối cùng vẫn bị mang đến các bãi thải hoặc lò đốt rác thải (Thanh Hoa, 2021). Trong năm 2020, 92 triệu tấn rác hàng dệt may đã bị thải bỏ, 85% lượng rác thải nhựa ra ngoài đại dương đến từ ngành công nghiệp tỷ đô này. Theo báo cáo của Viện Tài nguyên Thế giới, 1,2 tỷ tấn CO2 được thải vào khí quyển mỗi năm bởi ngành thời trang nhanh.
8 Một cơ sở gia công giặt nhuộm quần áo, xả khói, nước thải ra gây ô nhiễm môi trường và đời sống của người dân xung quanh nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong một ngày cơ sở này đã vượt quy chuẩn kỹ thuật với lượng nước thải xả ra từ 1.5 đến 3 lần và lượng khí thải là từ 5.2 Hiện tượng lãng phí Thứ nhất: Thời trang nhanh không được sử dụng nhiều lần, khuyến khích lối sống lãng phí của Thế hệ Z Ước tính mỗi năm có hơn 150 tỉ mặt hàng thời thời trang mới được tung ra thị trường (Báo Tuổi Trẻ, 2023).