phần mở đầu, tác giả trình bày về lý do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa lý khoa học và thực tiễn, những hạn chế của luận văn. Trong phần nội dung nghiên cứu, tác giả lần lượt mô tả về bối cảnh kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh như một yếu tố tác động đến việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên; hành vi xác định mục tiêu học tập và các yếu tố tác động đến hành vi đó. Trên cơ sở đó, tác giả tiếp tục mô tả và phân tích chi tiết hành vi lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường dựa trên các mục tiêu mà bản thân đặt ra. Đồng thời qua đó, tác giả lý giải những giá trị sống mà sinh viên hướng đến thông qua hành vi lựa chọn nghề nghiệp.
Cuối cùng, phần kết luận tác giả khái quát lại những nội dung, kết quả nghiên cứu đã trình bày ở phần nội dung nghiên cứu và đưa ra kết luận chung cho nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 1.1 Khái niệm cơ bản Nhằm đo lường các giá trị nơi người trẻ trong bối cảnh xã hội Việt Nam, trong khuôn khổ công trình nghiên cứu này, tôi thao tác hóa một số khái niệm cơ bản, then chốt của đề tài như: Giá trị; Kiến tạo giá trị; Trường xã hội; Vốn; Nghề nghiệp – Thiên chức; Vị thế xã hội.1 Giá trị Trong bài viết "Khái niệm giá trị" của tác giả Nguyễn Đức Truyền dịch từ theo quan điểm của M.Willams đăng trên Tạp chí Xã hội học năm 1991 đã đề cập đến khái niệm "Giá trị" như sau: Thuật ngữ "giá trị" có thể quy chiếu vào những mối quan tâm (interest), những thích thú (pleasures), những cái ưa thích (like), những sở thích (preferences), những bổn phận (duties), những trách nhiệm tinh thần (moral obligation), những ước muốn (desires), những đòi hỏi (want), những nhu cầu (needs), những ác cảm (aversions), những lôi cuốn (attractions) và nhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn - dẫn theo quan điểm của Pepper, 1958, tr,7. Nói cách khác, giá trị có mặt trong thế giới rộng lớn và đa dạng của hành vi lựa chọn. Hoàn toàn có thể hiểu rằng hành vi theo phản xạ không biểu hiện các giá trị hay sự đánh giá.
Một trong những định nghĩa được chấp nhận rộng rãi hơn đó là coi giá trị như là những quan niệm về cái đáng mong muốn (desirable) ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn. Với định nghĩa này sẽ có sự phân biệt giữa cái được mong muốn và cái đáng mong muốn, chúng được coi là ngang hàng với cái mà chúng ta phải mong muốn. Phạm Minh Hạc (2004) định nghĩa: “Giá trị là cái quy định mục đích của hoạt động”. Ông nêu lên mối quan hệ giữa giá trị và đời sống của con 12 người: “Đó là vấn đề sống còn của từng con người, mà tổng hợp lại có thể nói rằng vấn đề giá trị đi theo suốt đời người khác: xác định hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị (gọi tắt là xác định giá trị), rồi theo đuổi giá trị, biểu hiện giá trị, thực hiện giá trị, đời người là tổng các giá trị do con người tạo nên, tiếp thu, chấp nhận, lấy làm chuẩn mực bằng dòng hành động của bản thân.
Tổng các giá trị này là văn hóa của người đó. Trong đời sống hàng ngày con người có các phán đoán về các giá trị: thái độ ủng hộ giá trị này, phản đối giá trị kia, đánh giá giá trị này cao, coi giá trị kia thấp… Nói đến gia trị là nói đến đánh giá, tìm ra ý nghĩa của sự vật này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm tới, có ước muốn đạt được để thực hiện một mục đích nào đấy. Đó là thái độ (hệ thống thái độ) của từng con người đối với xung quanh, cũng tức là một phần cực kỳ quan trọng trong lối sống, cách sống.” Trong công trình nghiên cứu về lựa chọn giá trị sống của thanh niên, tác giả Nguyễn Đức Lộc cũng sử dụng khái niệm "giá trị" với các nhận định sau: Giá trị là các nguyên tắc cơ bản định hướng hành động, là những quan điểm, thái độ về những điều được mong muốn, về những quan niệm dẫn dắt trong văn hóa, tôn giáo, đạo lý và xã hội. Những định hướng giá trị thống trị trong một xã hội là khung cơ bản của văn hóa.
Với tính cách là những nguyên tắc của đời sống xã hội, các chuẩn mực chỉ có thể vận hành khi các chuẩn mực quan trọng nhất đối với hành động xã hội được kết nối với nhau, khi chúng được theo đuổi như là "đầy giá trị" (quan trọng, đúng đắn, chân lý) theo một ý nghĩa có tính đạo lý. Giá trị là những "chỉ dẫn đạo lý" dẫn dắt hành động con người. Chúng biểu hiện các ý nghĩa và mục tiêu mà các cá nhân và nhóm gắn với hành động của họ.Và theo các nhà chức năng luận, giá trị là cái có sẵn trong hệ thống văn hóa của xã hội và nó trở thành hệ những giá trị riêng của mỗi người thông qua cơ chế xã hội hóa cá nhân nhằm kiểm soát xã hội, duy trì 13 trật tự và và bảo tồn các khuôn mẫu hành động của các cá nhân (Lê Ngọc Hùng, 2008, tr. Theo Nguyễn Xuân Nghĩa (2012), giá trị, dưới góc độ xã hội học, được xem là tất cả những gì con người đánh giá cao, mong muốn có được và xem như là lý tưởng.
Theo Lâm Thị Ánh Quyên (2016) giá trị được định nghĩa là những đối tượng, trạng thái mà con người trong một xã hội cho là cần thiết, là thích thú, là đáng mong muốn và đáng hướng đến. Một mặt, giá trị được xem như mục tiêu (hướng đến giá trị); mặt khác, giá trị được xem như một tiêu chuẩn để đánh giá các mục tiêu, đối tượng và hành vi, đảm nhận chức năng định hướng, có vai trò chỉ đạo hành động cho các thành viên trong xã hội. Các mục tiêu của hành vi là sự phản ánh hoặc sự thể hiện nhận thức về những giá trị. Giá trị được cá nhân nội tâm hóa.
Như vậy, trong đề tài này khi nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp như là lựa chọn những giá trị sống của sinh viên trong bối cảnh hiện nay thì giá trị được định nghĩa là các nguyên tắc cơ bản định hướng hành động, là những quan điểm, thái độ về những điều được mong muốn, về những quan niệm dẫn dắt trong văn hóa, tôn giáo, đạo lý và xã hội. Giá trị là những điều con người ta mong muốn và đáng hướng đến.2 Kiến tạo giá trị Trong tác phẩm Xã hội và con người của Trần Văn Toàn (1965) có nhận định “ở thái độ nhìn nhận, ta coi người khác cũng là nguồn gốc của nghĩa lý sự vật y như ta. Ta không giữ bản quyền sự hiện diện trong vũ trụ, vì rằng: một đằng ta sinh ra người khác đã xây dựng nên một hệ thống dụng cụ mà ta phải học mới biết sử dụng, nghĩa là ta phải thâu nhận cái ý nghĩa phổ biến mà người khác đã đặt trong dụng cụ. Ta phải mất rất nhiều thì giờ để biết sử dụng các dụng cụ, các máy móc đã có sẵn trong xã hội ta.
Đằng khác mỗi khi ta định 14 đưa một nghĩa lý mới vào trong vũ trụ, thì nghĩa lý ấy chỉ có thể tồn tại được khi người khác cũng nhìn nhận nó”. Như vậy, nghĩa lý hay nguồn gốc của nghĩa lý ở đây mà mọi người nhìn nhận giống nhau đã mang tính phổ biến trong xã hội, mỗi cá nhân khi sinh ra bắt đầu tiếp nhận và học tập những nghĩa lý ấy, thu nạp và lãnh hội vào chính bản thân mình để tạo nên nghĩa lý của con người mình. Giống như trước đó Berger và Luckmann (1960) khi nói về tiến trình nội tâm hóa cá nhân đã cho rằng sự lãnh hội ấy không phải do cá nhân “tự mình sáng tạo ra ý nghĩa” mà thực ra “khởi sự kể từ khi cá nhân tiếp quản cái thế giới mà trong đó đã có những người khác đang sinh sống rồi. Và lẽ dĩ nhiên khi tiếp quản hay lãnh hội, mỗi cá nhân có thể biến đổi một cách sáng tạo hoặc kể cả sáng tạo lại những ý nghĩa ấy.
Con người cá nhân không chào đời là một thành viên của xã hội mà chào đời với một bẩm tính thiên về xã hội tính (sociality) và rồi anh ta trở thành một thành viên của xã hội. Trải qua quá trình xã hội hóa, tức là được dẫn dắt để tham gia vào sự biện chứng của xã hội mà đối với mỗi cá nhân, khởi điểm của quá trình này là sự nội tâm hóa. Việc trực tiếp lãnh hội hoặc diễn giải một biến cố khách quan như có một ý nghĩa nào đó, nghĩa là như một biểu hiện của những tiến trình chủ quan của một người khác và bằng cánh ấy trở nên có ý nghĩa về mặt chủ quan đối với chính cá nhân. Trong nghiên cứu này, quá trình kiến tạo giá trị nghề nghiệp của sinh viên được thể hiện như thế nào trong lựa chọn nghề nghiệp được hiểu theo ý nghĩa của tiến trình nội tâm hóa cá nhân.3 Trường xã hội Khái niệm trường được Bourdieu định nghĩa vào năm 1960 nhằm mục tiêu khảo sát thực nghiệm về lịch sử hình thành và chuyển hóa của các thế giới nghệ thuật và văn chương, sau đó ông và các cộng sự sử dụng khái niệm này trong nhiều lĩnh vực khác.
Trong các xã hội phát triển, các lĩnh vực đa dạng 15 trong đời sống như nghệ thuật, khoa học, kinh tế, tôn giáo, chính trị…luôn luôn có xu hướng trở thành những tiểu vũ trụ biệt lập nhau, trong đó mỗi vũ trụ đều có những quy tắc, luật lệ và hình thái quyền lực riêng biệt – Bourdieu gọi đó là “trường” (Trần Hữu Quang, 2019). Theo Trần Hữu Quang (2019), “đối với Bourdieu, trường bao gồm ba đặc điểm. Thứ nhất, trường là một không gian đã được cấu trúc hóa một cách rõ ràng, trong đó bao gồm những vị trí nhất định mà trong đó nó áp đặt những quy định đặc thù lên bất cứ ai muốn gia nhập. Thứ hai, trường là một đấu trường trong đó các tác nhân và các định chế luôn luôn tìm cách duy trì hoặc lật ngược thế cờ phân bố vốn.
Thứ ba, trường thường mang tính chất tự trị. Sự lựa chọn của mỗi cá nhân thường phụ thuộc vào vị trí của mình trong trường có liên quan.