Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học chủ đề tích hợp. Xây dựng nội dung, thiết kế phương án dạy học chủ đề tích hợp "Âm thanh” ở Trung học cơ sở. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP 1. Lịch sử nghiên cứu đề tài dạy học chủ đề tích hợp Tác giả Đào Trọng Quang với bài “Biên soạn sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp, cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm”. Tác giả đã đề cập tới bản chất của sư phạm tích hợp, quan điểm tích hợp, một số nguyên tắc chủ đạo và một số kỹ thuật của tích hợp. Tác giả Đỗ Ngọc Thống đã nêu một hệ thống quan điểm tích hợp và dạy học theo hướng tích hợp, đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa cộng gộp kiến thức và tích hợp kiến thức trong cuốn “Đổi mới dạy và học Ngữ văn ở THCS” Tác giả Lê Trọng Sơn với công trình “Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học phần sinh lư người ở lớp 9 THCS” tác giả đã nhấn mạnh việc tích hợp dân số vào môn Sinh học 9 là thích hợp với nội dung cũng như độ tuổi của học sinh.
Tác giả Đinh Xuân Giang trong luận văn thạc sĩ (2009) với đề tài “Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp trong dạy học một số vấn đề về chất khí và cơ sở nhiệt động lực học vật lý 10 cơ bản nhằm phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh”. Trong đề tài này tác giả đã nhấn mạnh sự phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh khi dạy học tích hợp các kiến thức về chất khí và cơ sở nhiệt động lực học. Tác giả Phạm Minh Hải trong luận văn thạc sĩ (2013) với đề tài “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Vật lý 12” đã nhấn mạnh việc nghiên cứu lý luận về bảo vệ môi trường và việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Vật lý 12 nhằm thiết kế phương án dạy Vật lý 12 có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường. Tác giả Đào Thị Ngọc Anh, luận văn Thạc sĩ (2013) với đề tài “Tích hợp giáo dục an toàn vệ sing lao động trong dạy học vật lí”đã nhấn mạnh vai trò của việc giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học và xây dựng nội dung, thiết kế phương án dạy học tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động ở phần điện học vật lí 11.[1] Tác giả Vũ Quang Cẩn (2014) luận văn Thạc sĩ với đề tài “Tổ chức dạy học tích hợp chủ đề Dòng điện xoay chiều và cuộc sống” đã xây dựng nội dung tích hợp liên môn và thiết kế phương án dạy học chủ đề này.[4] 5 z Tác giả Phạm Thị Luyến (2014), luận văn Thạc sĩ với đề tài “Tổ chức dạy học tích hợp chủ đề Sự nhìn của Mắt” cũng đã xây dựng nội dung tích hợp liên môn và thiết kế phương án dạy học chủ đề này.[12] Tác giả La Đình Tấn ( 2015), luận văn Thạc sĩ với đề tài “Tổ chức dạy học chủ đề tích hợp “Ánh sáng” ở THCS đã xây dựng nội dung tích hợp liên môn và thiết kế phương án dạy học chủ đề này.
Tác giả Phạm Thị Hoa (2015) luận văn Thạc sĩ với đề tài “ Xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề tích hợp “Ô nhiễm tiếng ồn” ở THPT đã xây dựng nội dung tích hợp liên môn và thiết kế phương án dạy học chủ đề này. Tác giả Trà Thị Cẩm Giang (2015) luận văn Thạc sĩ với đề tài “Xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề tích hợp “Dự báo thời tiết” ở THPT đã xây dựng nội dung tích hợp liên môn và thiết kế phương án dạy học chủ đề này. Như vậy, ở nước ta vấn đề xây dựng môn học tích hợp đã hình thành với những mức độ khác nhau. Mới đầu được tập trung nghiên cứu về lý luận, sau đó xuất hiện các đề tài nghiên cứu lý luận và áp dụng vào giảng dạy nhưng chủ yếu ở bậc tiểu học và THCS.
Tinh thần giảng dạy tích hợp mới chủ yếu thực hiện ở mức độ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn hay phân môn khác nhau để giải quyết vấn đề dạy học. Gần đây mới xuất hiện các đề tài nghiên cứu giảng dạy tích hợp vào bậc THPT trong đó có liên quan tới môn Vật lí. Nhìn chung các đề tài đã trình bày rõ ràng cơ sở lý luận về giảng dạy tích hợp, nêu nên các ưu điểm của dạy học tích hợp trong việc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh. Dạy học tích hợp 1.
Khái niệm tích hợp, tích hợp môn học và dạy học tích hợp 1. Khái niệm tích hợp Tích hợp (tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Integration với nghĩa xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Theo từ điển tiếng Anh - Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary) integration có nghĩa kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể. Những phần những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau.
6 z Theo từ điển tiếng Pháp thì nghĩa của từ tích hợp có nghĩa là “gộp sát, sát nhập vào thành một tổng thể”. Theo từ điển tiếng Việt “Tích hợp” là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Như vậy, có nhiều khái niệm về tích hợp được đưa ra nhưng nhìn chung tất cả các khái niệm đều nêu lên tích hợp là sự hợp nhất giữa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là phép cộng những thuộc tính của các thành phần ấy. Tích hợp môn học Quan niệm tích hợp môn học theo quan điểm của tác giả Xavier Roegiers [27]: - Tích hợp là một quan điểm lí luận dạy học: Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hoà nhập… - Tích hợp môn học có các mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao nhưng tựu chung lại có 4 loại chính sau: + Tích hợp trong nội bộ môn học: ưu tiên các nội dung của môn học tức nhằm duy trì các môn học riêng rẽ.
+ Tích hợp đa môn: một đề tài nghiên cứu theo nhiều môn học khác nhau. + Tích hợp liên môn: trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống. + Tích hợp xuyên môn: trong đó tìm cách phát triển ở HS những kỹ năng xuyên môn, nghĩa là những kỹ năng xuyên môn có thể áp dụng được ở mọi nơi. Tìm hiểu về nội dung kiến thức chủ đề Âm thanh, ví dụ như vật như thế nào thì phát ra âm, âm nhạc có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống mà con người lại chế tạo ra một số lượng phong phú các loại nhạc cụ, hay con người phát ra âm như thế nào, con người tiếp nhận âm thanh như thế nào,v.
ta có thể thấy kiến thức chủ đề âm thanh hoàn toàn xuất phát từ ngữ cảnh đời sống, do đó trong luận văn này chúng tôi nhận thấy có thể dẫn dắt học sinh tìm hiểu vấn đề với cách tích hợp xuyên môn chủ đề “Âm thanh”. Dạy học tích hợp Theo Xavier Roegiers: “Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh 7 z nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa”.73] Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, theo Dương Tiến Sỹ: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó”. [15] Theo Nguyễn Văn Khải “Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết các tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của HS.
Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, HS sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo”.[9] Chủ đề tích hợp “Âm thanh” hướng tới hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước như năng lực tự học, năng lực học tập hợp tác và những kiến thức cần thiết phục vụ cho quá trình học tập suốt đời, giúp học sinh hòa nhập vào cuộc sống, chủ đề tích hợp này hướng tới một quá trình học tập có ý nghĩa như theo quan điểm của Xavier Roegiers. Những cách tích hợp các môn học Theo Xavier Roegiers có bốn cách tích hợp các môn học được chia thành hai nhóm lớn như sau [27]: - Nhóm 1: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học. + Cách tích hợp thứ nhất: những ứng dụng chung cho nhiều môn học ở cuối năm hay cuối cấp học. Việc tích hợp các môn học chỉ thực hiện trong một bài làm hoặc một đơn nguyên ở cuối năm học.1 Vật lí Đơn Ví dụ: Các môn lí, hoá, sinh vẫn được nguyên dạy riêng rẽ nhưng đến cuối năm hoặc cuối cấp hoặc Hóa học bài làm có một phần, một chương về những vấn đề chung tích hợp của các khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, HS được đánh giá bằng một bài thi tổng Sinh học hợp kiến thức.
+ Cách tích hợp thứ hai: những ứng dụng chung cho nhiều môn học thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học. Việc tích hợp các môn học được thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm. Lúc này cần luôn luôn quan tâm 8 z đặt các quá trình học tập vào định hướng tích hợp, nhưng chúng ta buộc phải duy trì các môn học riêng rẽ. Ví dụ: Vật lí 1 Đơn Vật lí 2 Đơn nguyên nguyên hoặc hoặc Hóa học 1 bài làm Hóa học 2 bài làm tích hợp tích hợp 1 2 Sinh học 1 Sinh học 2 Sơ đồ 1.2 Đơn nguyên tích hợp 1 chẳn hạn có thể là “nguồn âm”, đơn nguyên tích hợp 2 “vật thu âm”.
- Nhóm 2: Phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau.