CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1. Sáng tạo và năng lực sáng tạo 1. Sáng tạo Theo nghĩa của từ "sáng tạo" trong từ điển Tiếng Việt, nó được hiểu là quá trình tìm kiếm các ý tưởng và phương pháp giải quyết mới mẻ, không bị ràng buộc hoặc phụ thuộc vào những gì đã tồn tại trước đó. Trong tác phẩm "Sáng tạo: Quá trình sinh ra và Nhân cách học về Sự kiến tạo và Khám phá", nhà nghiên cứu tâm lý Mihaly Csikszentmihalyi đã nêu một số trường hợp sau đây làm nền tảng cho sự xuất hiện của sự sáng tạo:.
Những người có sự quan tâm và sự hào hứng đặc biệt với các hoạt động và có những suy nghĩ khác thường. • Những kẻ sở hữu cảm nhận tươi sáng về cuộc sống, có những ý tưởng sâu sắc và thực hiện những khám phá quan trọng theo phong cách riêng của mình, hoặc tạo ra những sáng tạo độc đáo. • Những người đã đạt được những thành tựu sáng tạo lớn lao, được nhận ra trên mọi nơi trên thế giới, chẳng hạn như các nhà khoa học hoặc các nghệ sĩ. Thường thấy, tính sáng tạo được đánh giá là một khả năng chỉ có ở các nhà khoa học.
Nhưng thực ra, tất cả mọi người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau cũng sở hữu khả năng sáng tạo. Trong bài viết nghiên cứu này, tác giả định nghĩa sáng tạo theo cách Phan Dũng đã đưa ra (trong cuốn sách "Giới thiệu phương pháp luận sáng tạo và đổi mới"): "Sáng tạo là quá trình tạo ra bất kỳ sản phẩm nào có đặc điểm mới lạ và có ích". Một đối tượng có tính mới khi nó có sự khác biệt so với các đối tượng cùng loại đã tồn tại 6 trước đó, và không bị phụ thuộc hoặc gò bó vào đối tượng đã có. Thông thường, khả năng sáng tạo được coi là một đặc tính chỉ dành cho những nhà khoa học.
Thực tế là, mỗi người đều sở hữu khả năng tạo nên ý tưởng mới trong những lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau mà họ đang theo đuổi. Trong bài báo cáo nghiên cứu này, tác giả đã định nghĩa sáng tạo theo cách Phan Dũng đã nêu ra (trong cuốn sách "Giới thiệu phương pháp luận sáng tạo và đổi mới"): "Sáng tạo là quá trình tạo nên bất kỳ sản phẩm nào có tính đặc trưng mới lạ và có giá trị". Năng lực sáng tạo Khái niệm về khả năng theo góc độ tâm lý học được xác định là: "Là một bộ tính chất đặc trưng của mỗi cá nhân, phản hồi tích cực với những yêu cầu của một hoạt động cụ thể, để đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả" [19, tr., "Khả năng là sự tổng hợp hoặc tập hợp các đặc tính của con người, đáp ứng những nhu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đó đạt được hiệu quả cao" [5, tr. Theo định nghĩa của Nguyễn Quang Uẩn - Trần Trọng Thuỷ (2009), khả năng là tập hợp các đặc điểm riêng biệt của cá nhân, phù hợp với những nhu cầu của hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt [20].
Theo góc nhìn của hai tác giả trên, những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt của mỗi cá nhân là những yếu tố chủ quan quan trọng để thành lập khả năng, trong đó khả năng chỉ được thành lập trong quá trình hoạt động và không tồn tại ngoài hoạt động. Tất cả các khái niệm liên quan đến khả năng đều được nghiên cứu dựa trên góc độ tâm lí học, vì khả năng là một tính chất tâm lý của con người, nó tạo nên sự thành công cho cá nhân trong quá trình hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống. Dưới đây là một số khái niệm về khả năng dưới góc độ dạy học tiếp cận khả năng: Theo định nghĩa của Weiner F. (2011), Khả năng là những tài năng và kiến thức có thể học được hoặc sẵn sàng của mỗi người để giải 7 quyết các trạng tượng xác định, kèm theo đó là sự chuẩn bị về mặt động lực, xã hội.
và khả năng áp dụng các giải pháp một cách trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Nhiều tác giả đã xem "năng lực là khả năng", tuy nhiên thực tế cho thấy rằng năng lực được biểu hiện dưới dạng tiềm ẩn và chỉ bộc lộ dưới dạng kĩ năng hành động trong quá trình hoạt động, do đó việc xem năng lực là khả năng không hoàn toàn chính xác.22] Theo các nghiên cứu quốc tế và trong nước, khả năng là một hành động được thể hiện thông qua kiến thức, trình độ kỹ thuật, tính linh hoạt và tư duy phù hợp với nhu cầu của hoạt động, đảm bảo rằng hoạt động đạt được hiệu quả cao. Về năng lực sáng tạo, Huỳnh Văn Sơn đã nhận định: "Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những ý tưởng mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người" [14, tr.29Trong bài luận văn, tác giả sẽ trọng tâm nghiên cứu khả năng sáng tạo theo góc độ lí luận dạy học: Khả năng sáng tạo được xem là khả năng kích hoạt, tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các đặc tính cá nhân để giải quyết một nhiệm vụ học tập. Sáng tạo có thể được tìm thấy hoặc thể hiện trong quá trình tiếp cận một bài tập học tập, có thể là một cách thức hiểu mới về vấn đề, một giải pháp tươi mới cho vấn đề, một cải tiến trong quá trình thực hiện vấn đề, một cách nhìn nhận đánh giá tươi mới hoặc một cách cải tiến một thí nghiệm đã có sẵn.
Độ mới mẻ và sáng tạo trong cách giải quyết vấn đề là một bước tiến lên cao hơn so với phương pháp thông thường, tương xứng với mức độ và khả năng của học sinh hoặc là một sự phát triển so với nhận thức hiện tại của học sinh. Theo các góc nhìn trên, chúng ta có thể nhận ra khả năng sáng tạo qua những dấu hiệu sau: Sự tươi mới và độ độc đáo được thể hiện. Có thể đưa ra các giải pháp tươi mới và nhanh chóng cho những vấn đề quen thuộc. Từ một trở ngại, có khả năng phát triển nhiều ý tưởng và đề xuất 8 các giải pháp khắc phục tương ứng.
Tận dụng kiến thức hiện tại để sáng tạo ra những ý tưởng sáng tạo, vẫn đảm bảo chất lượng và đạt được kết quả tốt nhất. Có khả năng đề xuất và triển khai một vấn đề một cách độc đáo, không theo kiểu mẫu truyền thống. Tạo ra những sản phẩm mới lạ, có ý tưởng độc đáo. Từ các đề đầu ta có thể thấy: Kỹ năng tạo nên những giá trị mới dựa trên các đặc điểm riêng biệt của một cá thể được gọi là khả năng sáng tạo.
Đây là biểu hiện của khả năng tạo ra những sản phẩm hoặc giải quyết các vấn đề một cách tươi mới. Nếu một cá thể có khả năng sáng tạo thì sẽ tạo ra những sản phẩm tương ứng hay không? Trong thực tế, để khả năng sáng tạo có thể phát huy tốt nhất, cần phải có điều kiện và môi trường tốt. Trí tuệ tổng hợp và khả năng tạo nên được thành thạo và phát triển trong quá trình tác nhảy của bản thân. Để học một kỹ năng tạo nên, cần tạo nên các điều kiện cần thiết để họ có thể thành công trong bất cứ hoạt động nào.
Một số dấu hiệu để nhận ra khả năng tạo nên gồm: Có khả năng phát hiện các giải pháp tươi mới, nhanh hơn cho những vấn đề quen thuộc. Đưa ra và triển khai những cách tái tạo mới mà không theo những đường lối quen thuộc. Khi đạt đến một giai đoạn nào đó, có thể xây dựng nhiều tình huống và đề xuất các giải pháp tương ứng. Sử dụng các kiến thức đã sở hữu để sáng tạo ra các sản phẩm mới lạ, vẫn giữ được hiệu quả tốt nhất và đảm bảo đáp ứng tốt những yêu cầu được yêu cầu.
Tạo nên một sản phẩm sáng tạo, mang trong mình ý tưởng tươi mới và có sự khác biệt, đặc trưng riêng. Cấu trúc của năng lực sáng tạo Những yếu tố đặc trưng của từng cá nhân, như thể lực và trí tuệ, tạo 9 nên những tổ hợp độc đáo của họ. Tuy nhiên, khi nhìn tổng thể, có ba thành phần chính được xem như cơ bản trong năng lực sáng tạo, bao gồm khả năng suy nghĩ sáng tạo, động lực sáng tạo và ý chí. Tư duy sáng tạo: Tư duy tạo nên những ý tưởng hay cách tiếp cận mới trong một lĩnh vực nghiên cứu nào đó là khả năng của não bộ tạo ra các hoạt động hoặc phương pháp xử lý.
Tư duy tạo tác bao gồm 4 yếu tố chính, bao gồm: Nguồn cung cấp nguyên liệu cho quá trình tạo tác bao gồm các thông tin, dữ liệu, có thể là kiến thức, kinh nghiệm hoặc khả năng nhận thức của các giác quan đối với đối tượng. Vấn đề tạo tác: Tư duy tạo tác có tính chỉ đạo và thường xuất hiện từ các câu hỏi hoặc tình huống có vấn đề cần giải quyết. Hệ thống hoạt động, phương pháp của não bộ xử lý, chuyển đổi dữ liệu, thông tin. Hệ thống này gồm các yếu tố, phương pháp như sau: • Trí tưởng tượng: Những người sở hữu khả năng tưởng tượng tốt thường xuyên có khả năng sáng tạo cao.
Khả năng tưởng tượng là yếu tố quan trọng của tư duy tạo tác và có thể được phát huy và nâng cao khi tập luyện. Khả năng tưởng tượng và việc chơi vai trò đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra dữ liệu cho trí tuệ nhân tạo. Cảm giác: Là kết quả xảy ra từ quá trình xử lý thông tin ở mức độ không nhận thức và nhận thức, đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát minh khoa học và sáng chế. Cảm nhận chỉ có mặt ở chủ thể sau khi quá trình suy tư và suy nghĩ đã diễn ra trong một thời gian dài.
• Trí tuệ liên tục: Hiển thị qua quá trình cung cấp các thông tin, tài liệu và suy nghĩ. Kết quả của tư duy sáng tạo: Cung cấp các giải pháp, ý kiến cho các vấn đề tạo nên sự sáng tạo. Người có khả năng tạo ra những ý kiến, 10 giải pháp cho các vấn đề tạo nên sự sáng tạo trong một lĩnh vực cụ thể được coi là người có khả năng sáng tạo trong lĩnh vực đó.