CHƯƠNG I: Cơ sở lý thuyết 1. Giới thiệu chung về phim, và rạp chiếu phim 1.1 Một số khái niệm Phim Người ta tạo ra phim bằng cách ghi hình con người, vật thể bằng máy quay, hoặc tạo ra hình ảnh bằng các kỹ thuật hoạt họa. Những nhân tố thị giác mang đến cho phim sức mạnh truyền thông to lớn, có thể tác động trực tiếp và nhanh chóng tới suy nghĩ, tình cảm của người xem Phim ảnh là loại hình nghệ thuật kinh doanh tốt nhất, mang lại nhiều lợi ích về truyền thông, văn hóa cũng như lợi ích kinh tế. Đối tượng xem: Nhãn G (General Audiences): Phim cho phép phổ biến rộng rãi Nhãn PG (Parental Guidance suggested): Có thể không thích hợp với trẻ em Nhãn PG-13 (Parents Strongly Cautioned): Không nên dành cho trẻ dưới 13 tuổi Nhãn R (Restricted): Dưới 17 tuổi phải có cha mẹ hoặc người lớn đi cùng Nhãn NC-17: Không dành cho người vị thành niên Các công đoạn kể trên được thực hiện bởi một đội ngũ làm phim bao gồm các vị trí chính sau: Nhà sản xuất phim; Đạo diễn; Biên kịch; Diễn viên; Kỹ thuật viên.
Phim mới Đời sống ngày càng phát triển, đi đôi với đó là nhu cầu giải trí của con người. Do đó những nhà sản xuất phim luôn làm mới, cập nhật, phát triển và sáng tạo ra những bộ phim với nhiều thể loại, nội dung đa dạng. 11 Vậy, khái niệm phim mới chỉ đến những bộ phim được các nhà sản xuất phim ra mắt với khoảng thời gian được công chiếu tại rạp nhất định. Bao gồm những poster về phim, thời gian khởi chiếu và những video giới thiệu phim.
Ngoài ra, đối với phim chiếu rạp còn có 2 khái niệm là: Phim sắp chiếu – những bộ phim có ngày công chiếu sau ngày hiện tại, được giới thiệu tại các rạp qua poster (ảnh quảng bá của phim), trailer phim (một đoạn phim được chỉnh sửa với mục đích giới thiệu một phần về nội dung của phim) và phim đang chiếu – những bộ phim có ngày công chiếu trước ngày hiện tại, thời gian chiếu tùy theo từng rạp khác nhau.2 Thực trạng xem phim chiếu rạp tại Việt Nam QĐND - Ngày 15-3-2021, tròn 68 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 147/SL về việc thành lập Doanh nghiệp Quốc doanh Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam, vẫn được xem như ngày chính thức thành lập Điện ảnh Nhà nước Việt Nam. Bước vào giai đoạn mới, thị trường điện ảnh ở Việt Nam trở thành một trong những thị trường tăng trưởng nóng trên thế giới. Theo thống kê của Công ty TNHH CJ CGV Việt Nam: Năm 2009, ở Việt Nam có 87 phòng chiếu phim với tổng doanh thu khoảng 302 tỷ đồng (13 triệu USD); đến năm 2019, có 1.063 phòng chiếu tại 204 cụm rạp, doanh thu 4. Như vậy, sau 10 năm số lượng phòng chiếu phim tăng gấp hơn 12 lần; doanh thu tăng 13,5 lần (còn so với năm 2000 tăng hơn 86 lần).
Trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2016, chỉ tiêu đến năm 2020, ngành điện ảnh đạt khoảng 150 triệu USD; nhưng với doanh thu 176 triệu USD năm 2019, điện ảnh đã vượt 20% chỉ tiêu năm 2020. Đến năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, rạp chiếu phim bị thất thu nặng nề, doanh thu tụt xuống 1.660 tỷ đồng, chỉ còn hơn 1/3 doanh thu năm 2019. Tuy nhiên doanh thu phim Việt năm 2020 vẫn đạt 710 tỷ đồng, chiếm 42,5% tổng doanh số, một tỷ lệ cao chưa từng có trong mấy chục năm nay của điện ảnh Việt.2 Tổng quan về nền tảng Web 1.1 Internet Internet là gì? 12 Internet là một liên mạng máy tính toàn cầu được hình thành từ các mạng máy tính nhỏ hơn, liên kết hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua cơ sở hạ tầng viễn thông. Internet là mạng của các mạng máy tính.
World Wide Web (gọi tắt là Web hay WWW) Là một dịch vụ của Internet, cho phép bạn truy nhập tới nguồn thông tin đồ sộ của Internet. Nguồn thông tin này được tổ chức dưới dạng các trang Web có sự liên kết chặt sẽ với nhau.2 Website Website hay trang mạng, là một tập hợp trang web (Web page) có chứa nội dung đa dạng văn bản, chữ số, âm thanh, hình ảnh, video,… thường chỉ nằm trong một tên miền hoặc tên miền phụ, lưu trữ trên các máy chủ (Web server), trên đường truyền World Wide. Các thành phần tương tác của Website Hình 0.1: Sơ đồ tương tác của các thành phần EU (End-User): Người dùng cuối. Front-end (FE): Tương tác với người dùng thông qua giao diện hiển thị, sử dụng 3 ngôn ngữ lập trình chính: HTML, CSS, JavaScript.
Back-end (BE): Nơi xử lý các yêu cầu được gửi đến. Database (DB): Nơi chứa dữ liệu. Người dùng tương tác với FE qua giao diện hiển thị, khi đó mỗi hành động tương tác được gọi là một sự kiện. FE bắt các sự kiện xảy ra, sau đó gửi yêu cầu (Request) tương ứng đến BE.
Lúc này BE nhận yêu cầu, xử lý yêu cầu rồi gọi đến DB để lấy hoặc thay đổi dữ liệu. DB trả về dữ liệu mà BE yêu cầu. BE tiếp tục xử lý rồi phản hồi (Reponse) về FE. Lúc này FE sẽ hiển thị kết quả ra màn hình để người dùng tương tác.3 Hệ thống thông tin 1.1 Khái niệm hệ thống: Hệ thống là một tập hợp các phần tử (các thành phần) có liên hệ với nhau, hoạt động để hướng tới mục đích chung theo cách tiếp nhận các yếu tố vào, sinh ra các yếu tố ra trong một quá trình xử lý có tổ chức.
Như vậy, hệ thống gồm ba thành phần cơ bản tương các với nhau: Các yếu tố đầu vào (Input) Xử lý (Handle) Các yếu tố đầu ra (Output) 1.2 Dữ liệu và thông tin: Dữ liệu là các số liệu hoặc các tài liệu thu thập được chưa qua xử lý, chưa được biết đổi cho bất cứ mục đích nào khác. Thông tin là những dữ liệu đã được xử lý, có dạng như sản phẩm hoàn chỉnh thu được sau quá trình xử lý dữ liệu.2: Tiến trình biến đổi dữ liệu thành thông tin 1.3 Khái niệm hệ thống thông tin Hệ thống thông tin (HTTT) là một nhóm các thành tố tác động lẫn nhau để tạo ra thông tin, có nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin, hiển thị đến các đối tượng cần sử dụng thông tin. HTTT gồm: con người, quy trình và dữ liệu.3: Quy trình xử lý thông tin 1.4 Những tiêu chuẩn của một HTTT Hoạt động của một HTTT được đánh giá thông qua chất lượng của thông tin mà nó cung cấp với những tiêu chuẩn: Độ tin cậy: Thể hiện các mặt về độ xác thực và độ chính xác. 14 Tính đầy đủ: Thể hiện sự bao quát các vấn đề đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý.
Tính thích hợp và dễ hiểu: Thông tin cần mạch lạc, thích ứng với người nhận. Tính được bảo vệ: Thông tin là một nguồn lực quý báu của tổ chức. Thông tin phải được bảo vệ và chỉ những người được quyền mới được phép tiếp cận tới thông tin. Tính kịp thời: Thông tin phải luôn được cập nhật, làm mới, cần thiết với người dùng.4 Tổng quan về ngôn ngữ lập trình và các công nghệ sử dụng 1.1 Mô hình Web Services Web Services (hay “dịch vụ web”) là một mô-đun phần mềm được thiết kế để thực hiện một nhóm các tác vụ nhất định, là sự kết hợp giữa các máy tính cá nhân với các thiết bị khác, các cơ sở dữ liệu và các mạng máy tính để tạo ra một cơ cấu máy tính ảo mà người sử dụng có thể làm việc thông qua các trình duyệt mạng.
Web service hoạt động một cách độc lập không phụ thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào. Các ứng dụng java, .net hoặc PHP… có thể giao tiếp với các ứng dụng khác thông qua web service. Web service truyền thông bằng cách sử dụng các giao thức mở, tài nguyên phần mềm có thể xác định bằng địa chỉ URL, thực hiện các chức năng và đưa ra các thông tin người dùng yêu cầu, các ứng dụng độ lập và tự mô tả chính nó. Nền tảng cơ bản của web service là XML và HTTP.
Bất cứ một ứng dụng nào cũng đều có thể có một thành phần Web service. Web service có thể được tạo ra bằng bất kỳ một ngôn ngữ lập trình nào. Một Web Service đơn thuần là một API được bao bọc trong HTTP. API không phải lúc nào cũng cần dựa trên web.
Một API bao gồm một bộ đầy đủ các quy tắc và thông số kỹ thuật cho một chương trình phần mềm làm theo để tạo điều kiện tương tác. Cách thức hoạt động: XML (eXtensible Markup Language): Là ngôn ngữ đánh dấu mở rộng do W3C đề nghị với mục đích tạo ra các ngôn ngữ đánh dấu khác. XML cung cấp một ngôn ngữ mà có thể được sử dụng giữa ngôn ngữ lập trình và các nền tảng khác. Đồng thời, nó còn có thể được dùng để mô tả những thông điệp và chức năng phức tạp.
Do web service là sự kết hợp của nhiều thành phần khác nhau, do đó web serices sử dụng các tính năng và đặc trưng ủa 15 các thành phần này để giao tiếp với nhau. Vì vậy XML là một công cụ chính yếu để giải quyết vấn đề này. Web service tận dụng khả năng giải quyết vấn đề của các ứng dụng lớn trên các hệ điều hành khác nhau cho chúng giao tiếp với nhau. HTTP (HyperText Transfer Protocol): Là giao thức truyền tải siêu văn bản, bao gồm: URLs (Uniform Resource Locators) dùng để tham chiếu tới tài nguyên trên Internet Header: Mô tả dữ liệu, chứa các thông tin của thiết bị thực hiện Request Body: Phần thân chứa dữ liệu Method: GET (Lấy dữ liệu)/ POST (Gửi dữ liệu)/ PUT (Cập nhật dữ liệu)/ DELETE (Xóa dữ liệu) Nền tảng Web service cơ bản là XML HTTP.
Tất cả các web service chuẩn đều hoạt động bằng các thành phần sau: SOAP (là viết tắt của Simple Object Access Protocol) – giao thức truy cập đối tượng đơn giản: SOAP là một giao thức dựa trên XML đơn giản cho phép các ứng dụng trao đổi thông tin qua HTTP. UDDI (Universal Description, Discovery and Integration): UDDI là một tiêu chuẩn dựa trên XML để mô tả, xuất bản và tìm kiếm các dịch vụ web. WSDL (Web Services Description Language) – ngôn ngữ định nghĩa web service: WSDL là một ngôn ngữ dựa trên XML để mô tả các dịch vụ web và cách truy cập chúng.4: Mô hình hoạt động của các thành phần Đặc điểm: 16 Sử dụng Internet để kết nối các thành phần (FE, BE, BD) hoặc các thiết bị khác nhau (máy tính, điện thoại,…) với nhau, các thành phần kết nối không phụ thuộc vào vị trí máy tính được đặt.