Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Xây dựng và phát triển thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Sơn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đoàn Gia Dũng và PGS.TS. Đàm Xuân Hiệp, bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2014, thuộc chuyên ngành Kinh tế công nghiệp (mã số: 62.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Điện năng là loại hàng hóa đặc thù với chuỗi giá trị gắn liền từ sản xuất, truyền tải, phân phối đến tiêu dùng diễn ra đồng thời, không thể lưu trữ ở quy mô công nghiệp lớn với chi phí thấp. Tại Việt Nam, quá trình cải cách ngành điện được định hướng theo Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/10/2003 của Bộ Chính trị và Luật Điện lực năm 2004 với lộ trình 3 cấp độ: Thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM), Thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) và Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh.
Từ ngày 01/7/2012, Việt Nam chính thức vận hành thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM) theo mô hình một người mua duy nhất và chào giá theo chi phí (Cost-Based Pool - CBP). Tuy nhiên, thực trạng vận hành VCGM bộc lộ nhiều điểm hạn chế:
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vẫn nắm giữ chi phối trên 50% công suất nguồn điện và toàn bộ khâu mua buôn duy nhất (thông qua Công ty Mua bán điện - EPTC).
- Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) vừa thực hiện chức năng vận hành hệ thống (SO) vừa vận hành thị trường (MO) nhưng vẫn trực thuộc EVN.
- Giao dịch trên thị trường giao ngay chỉ chiếm tối đa 10% sản lượng điện, 90% sản lượng còn lại vẫn thực hiện qua hợp đồng song phương với cơ chế giá mua bán nội bộ mang tính chất hành chính.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào lộ trình tổng thể hoặc thiết kế kỹ thuật cho thị trường phát điện cạnh tranh cấp độ 1; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, mô hình thiết kế, cơ chế vận hành và giải pháp chuyển đổi tái cấu trúc ngành điện sang cấp độ thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường điện, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, các mô hình tổ chức thị trường và cơ chế vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh; phân tích kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng ngành điện và kết quả vận hành thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (VCGM) giai đoạn 2005 - 2012; chỉ rõ những tồn tại, bất cập và luận giải sự cần thiết phải chuyển đổi sang thị trường bán buôn điện cạnh tranh.
- Đề xuất mô hình cấu trúc, cơ chế vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam (VWEM) cùng hệ thống giải pháp tái cấu trúc tổ chức, hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế giá và hạ tầng kỹ thuật đến năm 2020.
Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế nào định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của một thị trường bán buôn điện cạnh tranh hiệu quả?
- Những rào cản và khiếm khuyết nào trong mô hình tổ chức, cơ chế giá và cấu trúc thị trường phát điện cạnh tranh hiện hành của Việt Nam cản trở việc nâng cao hiệu quả kinh tế ngành điện?
- Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) nào phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật và thể chế của Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi đến năm 2020?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam và các mối quan hệ kinh tế, cơ chế tổ chức, vận hành trong thị trường.
- Phạm vi không gian: Hệ thống điện và thị trường điện trên phạm vi lãnh thổ quốc gia Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng thu thập và phân tích trong giai đoạn 2005 - 2012; các đề xuất, dự báo và giải pháp được thiết kế cho giai đoạn đến năm 2020, có tầm nhìn dự báo cung cầu đến giai đoạn 2025 - 2030 dựa trên Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm chính:
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÔNG TRÌNH QUỐC TẾ CÔNG TRÌNH TRONG NƯỚC
• Daniel Kirschen & Goran Strbac (2004) • Đề tài Bộ Công nghiệp (2004)
• William W. Hogan (Harvard) • Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 3763-VIE (2003)
• Steven Stoft (2002) • Luận án TS. Nguyễn Anh Tuấn (2003)
• Frank Wolak (Stanford) • Đề án thiết kế tổng thể VCGM của EVN
• Các báo cáo của IEA, WB, ADB
Các nghiên cứu quốc tế
- Daniel Kirschen và Goran Strbac (2004) với công trình "Fundamentals of Power System Economics" phân tích các nguyên lý kinh tế vi mô ứng dụng trong hệ thống điện, bản chất của thị trường chào giá tập trung (Poolco), cơ chế giải tỏa công suất, định giá dịch vụ phụ trợ và phân tích các dạng hợp đồng tài chính trong thị trường bán buôn.
- William W. Hogan (Đại học Harvard) với các công trình về thiết kế thị trường điện cạnh tranh ("Competitive Electricity Market Design: A Wholesale Power Market Blueprint", "Contract Networks for Electric Power Transmission"), thiết lập cấu trúc cho mô hình bán buôn với cơ chế định giá biên theo nút (Locational Marginal Price - LMP) và quản lý nghẽn mạch truyền tải.
- Steven Stoft (2002) trong tác phẩm "Power System Economics - Designing Markets for Electricity" phân tích sâu về độ co giãn của cung - cầu điện năng, đường cong phụ tải (Load Duration Curve), định giá theo thời gian thực (Real-time Pricing) và nguyên tắc cân bằng cung - cầu thông qua tần số hệ thống.
- Frank Wolak (Đại học Stanford) qua các nghiên cứu so sánh hành vi giá điện tại Anh, Wales, Na Uy, Úc (bang Victoria), New Zealand và Mỹ Latinh, chỉ ra rằng mức độ tham gia của sở hữu tư nhân và quy tắc vận hành thị trường chi phối trực tiếp đến biên độ biến động giá điện.
- Các báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) như "Reforming Electricity Markets" (2001), "Competitive Electricity Markets" (2003) đúc kết mô hình tái cấu trúc ngành điện thông qua việc chia tách dọc (unbundling) và thiết lập cơ quan điều tiết độc lập.
Các nghiên cứu trong nước
- Đề tài của Bộ Công nghiệp (2004) về lộ trình phát triển thị trường năng lượng Việt Nam, đề xuất 4 giai đoạn phát triển từ thị trường hạn chế đến cạnh tranh bán lẻ sau năm 2020.
- Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 3763-VIE (2003) của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) về lộ trình cải cách ngành điện, đưa ra 3 phương án tổ chức đơn vị mua buôn duy nhất và kiến nghị EVN giữ vai trò công ty mẹ sở hữu các đơn vị truyền tải, mua điện và vận hành hệ thống trong giai đoạn đầu.
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Anh Tuấn (2003) nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, đề xuất giải pháp tái cơ cấu tổ chức phục vụ quá trình hình thành thị trường điện.
- Các đề án thiết kế thị trường của EVN (2007, 2009, 2012) tập trung vào việc chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật, cơ chế thanh toán và quy chế vận hành cho thị trường phát điện cạnh tranh cấp độ 1 (VCGM).
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án của NCS. Nguyễn Thành Sơn xác định vị trí nghiên cứu kế tiếp: Khi Việt Nam đã bước qua giai đoạn thử nghiệm VCGM, yêu cầu cấp thiết là phải xây dựng thiết kế tổng thể cho Thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM). Luận án giải quyết khoảng trống về mô hình tổ chức phân tách các tổng công ty phát điện (GENCO), công ty truyền tải (NPT), đơn vị vận hành hệ thống và thị trường (SO/MO), cùng cơ chế mua bán đa người mua thông qua hợp đồng sai khác tài chính (Contract for Differences - CfD) và thị trường giao ngay tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết về chuỗi giá trị ngành điện: Sản xuất kinh doanh điện năng gồm 4 khâu: Phát điện, Truyền tải, Phân phối và Cung ứng (bán lẻ). Trong đó, khâu truyền tải và lưới phân phối có tính chất độc quyền tự nhiên; khâu phát điện và bán lẻ có khả năng tổ chức cạnh tranh hoàn hảo hoặc cạnh tranh có điều tiết.
| Khâu sản xuất kinh doanh điện |
Tỷ lệ chi phí trong chuỗi giá trị (tham khảo thị trường Anh) |
Tính chất kinh tế |
| Phát điện |
65% |
Cạnh tranh tiềm năng |
| Truyền tải điện |
10% |
Độc quyền tự nhiên |
| Phân phối điện |
20% |
Độc quyền tự nhiên |
| Cung ứng điện (bán lẻ) |
5% |
Cạnh tranh tiềm năng |
- Lý thuyết tái cấu trúc ngành điện: Bao gồm phân tách theo chiều dọc (Vertical Unbundling - tách khâu phát điện, truyền tải, phân phối, bán lẻ về tài chính, pháp lý và quyền điều hành) và phân tách theo chiều ngang (Horizontal Unbundling - chia nhỏ các đơn vị phát điện để loại trừ vị thế thống lĩnh thị trường).
- Lý thuyết tổ chức thị trường bán buôn: Mô hình thị trường tập trung (Poolco), thị trường chào giá theo chi phí (CBP), thị trường chào giá theo giá (PBP), cơ chế xác định giá biên hệ thống (System Marginal Price - SMP), các giao dịch hợp đồng song phương và công cụ tài chính phòng ngừa rủi ro CfD.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp giữa phương pháp tiếp cận định tính và phân tích định lượng mô tả:
- Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Kế thừa văn bản pháp quy (Luật Điện lực 2004, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ Công Thương), các báo cáo thống kê vận hành hệ thống điện của EVN, A0, EPTC và các tổ chức quốc tế (IEA, ADB, WB).
- Phương pháp so sánh và tổng hợp: So sánh cấu trúc ngành điện và mô hình cải cách của các nước phát triển (Anh, Úc, New Zealand, Na Uy, Mỹ) và các nước đang phát triển (Chile, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Nga, Brazil).
- Phương pháp phân tích thống kê kinh tế: Xử lý chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2005 - 2012 về phụ tải điện, công suất lắp đặt, cơ cấu nguồn phát, giá điện bán buôn nội bộ, giá truyền tải, giá thanh toán trên thị trường giao ngay VCGM.
- Phương pháp ngoại suy và dự báo: Sử dụng số liệu dự báo cân bằng cung - cầu điện năng, cơ cấu phụ tải và quy mô phát triển nguồn/lưới điện giai đoạn 2015 - 2030 theo Quy hoạch điện VII để làm căn cứ thiết kế mô hình thị trường.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến từ các chuyên gia vận hành hệ thống, cán bộ quản lý tại Tổng công ty Điện lực miền Trung và Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương Tổng quan tình hình nghiên cứu về thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Chương này điểm lại một cách có hệ thống các tài liệu học thuật và báo cáo tư vấn trong và ngoài nước. Tác giả phân loại tiến trình cải tổ ngành điện trên thế giới theo các mốc thời gian (Chile từ 1982, Anh từ 1990, New Zealand từ 1987, Mỹ từ 1992, Singapore từ 1995, Philippines từ 1987, Hàn Quốc từ 1997).
Chương tổng quan nhấn mạnh bài học từ các nước đang phát triển: Cần xây dựng Luật Điện lực làm cơ sở pháp lý vững chắc trước khi thực hiện chia tách doanh nghiệp; giai đoạn quá độ thường áp dụng mô hình một người mua duy nhất trước khi chuyển sang thị trường bán buôn nhiều người mua, tránh việc thả nổi thị trường khi công suất nguồn điện chưa có dự phòng an toàn.
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng, phát triển thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Chương 1 đi sâu vào các nội dung học thuật nền tảng:
- Đặc tính kinh tế của điện năng: Quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời; sự cân bằng cung - cầu thể hiện tức thời thông qua tần số và điện áp lưới điện chứ không qua lượng tồn kho; độ co giãn của cầu theo giá trong ngắn hạn là rất thấp nhưng trong dài hạn khi giá tăng 10% có thể làm giảm từ 5% đến 15% lượng tiêu thụ.
- Bốn mô hình tổ chức thị trường điện:
- Mô hình độc quyền dọc: Một công ty điện lực duy nhất sở hữu toàn bộ các khâu từ phát điện đến bán lẻ.
- Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh (một người mua): Nhiều nhà máy điện cạnh tranh bán điện cho một người mua duy nhất (Single Buyer).
- Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh: Nhiều đơn vị phát điện bán điện cho nhiều công ty phân phối/bán buôn thông qua thị trường giao ngay và hợp đồng song phương; lưới truyền tải cho phép tiếp cận mở (Open Access).
- Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: Khách hàng sử dụng điện cuối cùng được quyền tự do lựa chọn đơn vị cung ứng điện.
- Cơ chế kinh tế trong thị trường bán buôn: Luận án làm rõ cơ chế vận hành của thị trường chào giá tập trung (Poolco), nguyên lý thanh toán theo giá biên hệ thống (SMP) và công cụ hợp đồng sai khác tài chính (CfD) giúp cố định dòng tiền cho nhà máy điện và bảo vệ đơn vị mua buôn trước biến động giá giao ngay.
| Tiêu chí |
Thị trường độc quyền |
Thị trường phát điện cạnh tranh |
Thị trường bán buôn cạnh tranh |
Thị trường bán lẻ cạnh tranh |
| Khâu phát điện |
Độc quyền |
Cạnh tranh |
Cạnh tranh |
Cạnh tranh |
| Khâu truyền tải |
Độc quyền tích hợp |
Độc quyền, tiếp cận hạn chế |
Độc quyền mở (Open Access) |
Độc quyền mở (Open Access) |
| Khâu bán buôn |
Không có |
Đơn vị mua duy nhất (SB) |
Đa người mua buôn (Discos, Trader) |
Đa người mua buôn |
| Khâu bán lẻ |
Độc quyền theo địa bàn |
Độc quyền theo địa bàn |
Độc quyền theo địa bàn |
Cạnh tranh hoàn toàn |
| Quyền lựa chọn của khách hàng |
Không có |
Không có |
Chỉ khách hàng lớn |
Mọi khách hàng |
Chương 2. Thực trạng thị trường điện hiện nay và sự cần thiết phải xây dựng, phát triển thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam
Chương 2 phân tích thực trạng hệ thống điện và thị trường điện Việt Nam qua các số liệu thống kê giai đoạn 2005 - 2012:
- Quy mô và cơ cấu nguồn điện năm 2012: Tổng công suất lắp đặt hệ thống đạt khoảng 26.500 MW. Trong đó, EVN sở hữu trực tiếp 46,3% (nếu tính cả các đơn vị liên kết thì chi phối trên 50%), Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) chiếm 11,5%, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chiếm 4,2%, các nhà máy BOT chiếm 8,3% và các nhà máy thủy điện độc lập (IPP) chiếm 16,7%. Cơ cấu công nghệ gồm thủy điện (48,4%), nhiệt điện khí (33,4%), nhiệt điện than (15,2%) và các nguồn khác (3%).
- Tiêu thụ điện năng và truyền tải: Điện thương phẩm tăng trưởng bình quân trên 12%/năm giai đoạn 2005 - 2012. Tỷ trọng tiêu thụ điện công nghiệp - xây dựng chiếm 52,9%, quản lý tiêu dùng dân cư chiếm 36,1%. Lưới điện 500kV Bắc - Nam đóng vai trò trục xương sống truyền tải công suất giữa các miền theo mùa.
- Thực tế vận hành VCGM từ 01/7/2012:
- Chỉ có các nhà máy điện có công suất đặt lớn hơn 30 MW đấu nối vào hệ thống điện quốc gia mới trực tiếp tham gia thị trường.
- Áp dụng cơ chế thị trường chào giá theo chi phí (CBP).
- Tỷ lệ sản lượng thanh toán theo giá hợp đồng (Qc) chiếm tới 90 - 95%, sản lượng chào giá trên thị trường giao ngay (Qm) chỉ chiếm 5 - 10%.
- Giá điện biên thị trường (SMP) biến động mạnh giữa mùa khô và mùa mưa do tỷ trọng thủy điện trong cơ cấu nguồn rất lớn.
- Những hạn chế cơ bản được chỉ ra:
- Cấu trúc thị trường chưa bình đẳng do EVN vừa nắm nguồn phát lớn, vừa sở hữu Công ty Mua bán điện (EPTC) - đơn vị mua duy nhất, vừa quản lý A0.
- Giá bán buôn điện giữa EVN và 5 Tổng công ty Điện lực (Tổng công ty Điện lực miền Bắc, miền Trung, miền Nam, TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) mang tính nội bộ, điều tiết theo kế hoạch, chưa phản ánh tín hiệu chi phí theo không gian và thời gian.
- Nguy cơ thiếu hụt vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn 2015 - 2020 nếu không đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia thị trường bán buôn.
Chương 3. Đề xuất mô hình và giải pháp cho xây dựng và phát triển thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam
Chương 3 là phần đóng góp trọng tâm của luận án, đưa ra phương án thiết kế toàn diện cho VWEM:
- Dự báo nhu cầu và cân bằng công suất (dựa trên QHĐ VII): Nhu cầu công suất cực đại ($P_{max}$) toàn quốc dự báo đạt 30.803 MW vào năm 2015, 52.043 MW vào năm 2020 và 87.086 MW vào năm 2025. Để đáp ứng, tổng công suất đặt nguồn điện cần đạt 40.000 MW năm 2015 và 75.000 MW năm 2020.
- Tái cấu trúc tổ chức ngành điện:
- Khâu phát điện: Hoàn thành phân tách và cổ phần hóa 3 Tổng công ty Phát điện (GENCO 1, 2, 3), giảm thị phần sở hữu phát điện của EVN xuống dưới mức chi phối thị trường (dự kiến dưới 30% vào năm 2020).
- Khâu truyền tải: Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (NPT) hạch toán độc lập hoàn toàn, cung cấp dịch vụ truyền tải công bằng cho mọi thành viên theo biểu giá do cơ quan điều tiết ban hành.
- Đơn vị vận hành hệ thống và thị trường: Tách Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) ra khỏi EVN để thành lập đơn vị vận hành hệ thống điện (SO) và đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện (MO) độc lập về pháp lý và tài chính, trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước hoặc hoạt động phi lợi nhuận.
- Khâu mua buôn: Chuyển đổi 5 Tổng công ty Điện lực miền thành các đơn vị mua buôn điện độc lập; cho phép các khách hàng lớn đấu nối cấp điện áp từ 110kV trở lên trực tiếp mua điện trên thị trường bán buôn.
CẤU TRÚC MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG BÁN BUÔN ĐIỆN CẠNH TRANH (VWEM)
[ CÁC ĐƠN VỊ PHÁT ĐIỆN ] [ ĐƠN VỊ MUA BUÔN ĐIỆN ]
• GENCO 1, 2, 3 • 5 Tổng công ty Điện lực
• Các NMĐ Độc lập (IPP) • Khách hàng lớn (>110kV)
• Các NMĐ BOT (tham gia gián tiếp)• Đơn vị bán buôn mới
[ ĐƠN VỊ ĐIỀU HÀNH ] [ ĐƠN VỊ VẬN HÀNH ]
Giao dịch thị trường (MO) Hệ thống điện (SO)
[ LƯỚI TRUYỀN TẢI QUỐC GIA ]
(Tổng công ty Truyền tải - NPT)
- Cơ chế vận hành thị trường bán buôn:
- Kết hợp giữa thị trường giao ngay (Spot Market) và hợp đồng mua bán điện song phương (Bilateral Contracts).
- Áp dụng cơ chế Hợp đồng sai khác (CfD): Đơn vị phát điện và đơn vị mua buôn ký kết hợp đồng CfD với sản lượng hợp đồng và giá thực hiện ($P_c$). Khi giá thị trường giao ngay ($P_m$) cao hơn $P_c$, đơn vị phát điện hoàn trả phần chênh lệch $(P_m - P_c)$ cho người mua; khi $P_m$ thấp hơn $P_c$, người mua bù phần chênh lệch $(P_c - P_m)$ cho đơn vị phát.
- Chuyển đổi phương thức chào giá từ chào giá theo chi phí (CBP) sang chào giá tự do theo giá (Price-Based Pool - PBP).
- Hệ thống giải pháp triển khai:
- Hoàn thiện khung pháp lý và giá điện: Xây dựng lộ trình giảm can thiệp hành chính của Nhà nước vào giá điện; sửa đổi Quy chế thị trường điện; ban hành quy định giám sát thị trường và kiểm soát vị thế độc quyền.
- Hạ tầng công nghệ thông tin: Nâng cấp hệ thống SCADA/EMS, trang bị hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa (RTU/SAS) tại 100% các điểm giao nhận điện; xây dựng hệ thống phần mềm tính toán thị trường (Market Clearing Engine) và hệ thống thanh toán thị trường điện (Settlement System).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về các giai đoạn tái cấu trúc ngành điện trong nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi mô hình kinh tế; chỉ rõ quy luật phát triển từ mô hình độc quyền dọc sang thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn và thị trường bán lẻ điện.
- Xác định rõ các điều kiện tiên quyết về kỹ thuật, tổ chức, pháp lý để chuyển đổi thành công từ thị trường phát điện một người mua (VCGM) sang thị trường bán buôn đa người mua (VWEM).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện, khách quan 6 tháng vận hành chính thức đầu tiên của thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (7/2012 - 12/2012), lượng hóa cơ cấu nguồn điện, mức độ tập trung thị trường và những điểm nghẽn về giá bán buôn nội bộ EVN.
- Đề xuất mô hình cấu trúc tổng thể và chi tiết cho Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam (VWEM), trong đó chỉ rõ mối quan hệ hợp đồng thương mại và phân định rõ vai trò của các chủ thể:
- Phân tách độc lập SO và MO khỏi EVN.
- Cổ phần hóa các GENCO và hạn chế tỷ lệ công suất sở hữu của một đơn vị dưới 25 - 30% toàn hệ thống.
- Trao quyền trực tiếp tham gia thị trường bán buôn cho 5 Tổng công ty Điện lực và các hộ tiêu thụ công nghiệp quy mô lớn.
- Đề xuất thiết kế cơ chế vận hành thị trường kết hợp giữa thị trường giao ngay (chào giá PBP) và hợp đồng tài chính phòng ngừa rủi ro (CfD).
- Đưa ra lộ trình chính sách cải cách giá điện và danh mục đầu tư hạ tầng đo đếm, công nghệ thông tin phục vụ vận hành thị trường bán buôn đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Cơ sở dữ liệu thực tế vận hành VCGM mới được thu thập trong giai đoạn đầu đi vào hoạt động (năm 2012), do đó chưa phản ánh được đầy đủ chu kỳ biến động thủy văn đa năm tác động lên giá chào của các nhà máy thủy điện.
- Các dự báo về cân bằng cung - cầu và phát triển nguồn/lưới điện trong Chương 3 phụ thuộc vào các giả định và kịch bản tăng trưởng của Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu cơ chế định giá biên theo nút (Locational Marginal Pricing - LMP) để phản ánh chính xác chi phí tổn thất và nghẽn mạch trên từng nút của lưới điện truyền tải Việt Nam.
- Thiết kế cơ chế tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) vào thị trường bán buôn điện trong điều kiện các nguồn này có tính bất định cao.
- Nghiên cứu mô hình chuyển tiếp từ thị trường bán buôn cạnh tranh (VWEM) sang thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn toàn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực - ERAV): Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng Đề án Thiết kế tổng thể thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam, sửa đổi Quy chế thị trường điện và hoàn thiện các quy định pháp lý về giám sát thị trường.
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các Tổng công ty Điện lực: Tham khảo phương án tái cấu trúc doanh nghiệp, quy trình phân tách SO/MO, kế hoạch cổ phần hóa GENCO và chuyển đổi các Tổng công ty Điện lực thành các đơn vị mua buôn hoạt động tự chủ theo tín hiệu thị trường.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên, học viên chuyên ngành Kinh tế công nghiệp, Kinh tế năng lượng: Là nguồn tài liệu hệ thống về kinh tế học thị trường điện, các mô hình định giá và cơ chế phân tích chuỗi giá trị năng lượng.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu chi phí chuỗi giá trị ngành điện được luận án dẫn chứng gồm những tỷ lệ nào?
Theo số liệu nghiên cứu quốc tế (tham khảo từ thị trường điện Anh) được tác giả dẫn chứng trong Chương 1, chuỗi giá trị sản xuất kinh doanh điện năng gồm: khâu phát điện chiếm khoảng 65% tổng chi phí, khâu truyền tải điện chiếm khoảng 10%, khâu phân phối điện chiếm khoảng 20% và khâu cung ứng điện (bán lẻ) chiếm khoảng 5%.
2. Thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (VCGM) vận hành chính thức từ thời điểm nào và có đặc điểm gì?
VCGM chính thức vận hành từ ngày 01/7/2012. Đặc điểm chính gồm: áp dụng mô hình một người mua duy nhất (Công ty Mua bán điện thuộc EVN); cơ chế thị trường chào giá theo chi phí (CBP); các nhà máy điện có công suất trên 30 MW tham gia chào giá với sản lượng điện giao ngay tối đa không quá 10% tổng sản lượng, 90% sản lượng còn lại thực hiện theo hợp đồng song phương.
3. Tại sao luận án khẳng định việc phân tách A0 thành đơn vị SO và MO độc lập là điều kiện tiên quyết cho thị trường bán buôn?
Vì trong thị trường bán buôn có nhiều người bán và nhiều người mua cạnh tranh trực tiếp. Nếu A0 vẫn trực thuộc EVN (đơn vị sở hữu nhiều nhà máy điện lớn và các tổng công ty điện lực), việc điều độ hệ thống (SO) và tính toán thanh toán thị trường (MO) sẽ có nguy cơ xung đột lợi ích và phân biệt đối xử đối với các nhà máy điện độc lập (IPP) và các đơn vị mua buôn ngoài EVN. Việc tách độc lập đảm bảo tính minh bạch, khách quan và công bằng cho mọi thành viên thị trường.
4. Hợp đồng sai khác (CfD) hoạt động như thế nào trong mô hình VWEM đề xuất?
Hợp đồng sai khác (CfD) là công cụ tài chính được ký giữa đơn vị phát điện và đơn vị mua buôn với mức giá thỏa thuận ($P_c$) cho một lượng sản lượng ($Q_c$). Mọi lượng điện phát và tiêu thụ thực tế đều giao dịch qua thị trường giao ngay theo giá biên hệ thống ($P_m$). Phần thanh toán sai khác tài chính được thực hiện độc lập: nếu $P_m > P_c$, nhà máy phát điện trả lại phần chênh lệch $(P_m - P_c) \times Q_c$ cho bên mua; nếu $P_m < P_c$, bên mua bù phần $(P_c - P_m) \times Q_c$ cho nhà máy phát điện. Cơ chế này giúp triệt tiêu rủi ro biến động giá giao ngay cho cả hai bên.
5. Khách hàng sử dụng điện nào được quyền tham gia trực tiếp vào thị trường bán buôn điện cạnh tranh theo đề xuất của luận án?
Luận án đề xuất cho phép các khách hàng sử dụng điện lớn có trạm biến áp riêng đấu nối trực tiếp vào cấp điện áp từ 110 kV trở lên được quyền đăng ký làm thành viên mua buôn trực tiếp trên thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM), không bắt buộc phải mua điện qua các Tổng công ty Điện lực khu vực.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thành Sơn là công trình nghiên cứu kinh tế công nghiệp có cấu trúc chặt chẽ, luận giải khoa học về sự cần thiết tất yếu phải chuyển đổi thị trường điện Việt Nam từ cấp độ phát điện cạnh tranh sang thị trường bán buôn điện cạnh tranh. Bằng việc kết hợp cơ sở lý luận kinh tế học hiện đại với việc phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2005 - 2012, tác giả đã đề xuất thành công mô hình cấu trúc tổ chức VWEM đa người mua, cơ chế thị trường kết hợp giao ngay và hợp đồng CfD, cùng lộ trình tái cấu trúc tổ chức và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật. Đây là công trình đóng góp thiết thực cho quá trình cải cách ngành điện và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng.