Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng tập thể sư phạm trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Thái Học và những nhân tố ban đầu của tổ chức biết học hỏi trong tập thể sư phạm nhà trường. Chương 3: Biện pháp xây dựng tập thể sư phạm thành một tổ chức biết học hỏi ở trường trung học phổ thông bán công Nguyễn Thái Học -9- z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Lãnh đạo, quản lý là sự tác động vào con người với tư cách là những cá nhân hoặc những tập hợp người nhất định, nhằm thiết lập, củng cố, duy trì và phát triển các quan hệ và thể chế, bảo đảm cho các cá nhân và các tập hợp người ấy hoạt động có hiệu quả nhất theo những mục tiêu xác định.
Khi nói đối tượng của sự lãnh đạo, quản lý là con người thì đó không chỉ là những cá nhân, mà chính là những cá nhân sống và hoạt động chung trong những mối liên hệ được xác định: những nhóm xã hội, những tập thể lao động. Thực tiễn quản lý đã tạo tiền đề cho sự phát triển các tư duy quản lý. Đã có nhiều quan điểm và các học thuyết quản lý ra đời. Theo quan điểm duy lý (hay quan điểm truyền thống), phải kể đến Frederich Winslow Taylor (1856- 1915) với Thuyết quản lý khoa học.
Quan điểm này có khuynh hướng xem các thành viên của một tổ chức như là những công cụ thụ động dưới bàn tay của người lãnh đạo. Taylor và các cộng sự của ông tin rằng động cơ thúc đẩy người công nhân làm việc tích cực chỉ là do họ muốn kiếm được nhiều tiền nhằm thoả mãn những nhu cầu về vật chất, kinh tế. Các quan điểm truyền thống thường quá tập trung vào vai trò người quản lý, ít tính đến sự chủ động của nhân viên, chưa chú ý đầy đủ đến khía cạnh con người trong các hoạt động quản lý [5]. Thực tiễn kinh tế - xã hội diễn ra trong các thập kỷ 20-30 của thế kỷ XX đã cho ra đời một trào lưu, một học thuyết mới trong quản lý: đó là quan điểm hành vi (hay quan điểm quan hệ con người).
Xây dựng nên học thuyết này là những cống hiến của Hugo Munsterberbe (1863-1916), Mary Parker Follett (1868-1933), Chester Irving Barnard (1886-1961) và đặc biệt là những công trình nghiên cứu của Elton Mayo (1880- ?). Quan điểm hành vi xem con người không chỉ như là một người làm công mà còn là một cá nhân có phẩm chất nhân cách và những hứng thú nhất định. Các khuyến khích bằng vật chất - 10 - z không phải lúc nào cũng làm nâng cao sản lượng mà chính sự quan tâm, thái độ chân thành, biết lắng nghe và phát huy sáng kiến của người lao động là những tác nhân quan trọng đối với việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Sự tăng trưởng hiệu suất lao động chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các nhân tố tâm lý, yếu tố phi chính quy nhiều hơn là bởi những nhân tố chuẩn mực chính quy.
Vào thời gian chiến tranh thế giới lần thứ II (1939- 1945), các nhà khoa học Anh đã đạt được những thành tựu quan trọng nhờ việc hình thành nên phương thức phân tích những hệ thống phức tạp. Quan điểm hệ thống trong quản lý là một cách tiếp cận để giải quyết các vấn đề nhờ sự chẩn đoán, phân tích những vấn đề đó trong một khuôn khổ của đầu vào của hệ thống, quá trình chuyển đổi của hệ thống, đầu ra của hệ thống cùng với liên hệ ngược. Quan điểm tình huống xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ trước. Cuốn sách đánh dấu sự ra đời của quan điểm tình huống là cuốn "Một lý thuyết lãnh đạo hiệu nghiệm” của Fred E.
Fieldler xuất bản năm 1967. Quan điểm tình huống cho rằng các hành động quản lý thích hợp phụ thuộc vào các tham số riêng có ở mỗi tình huống cụ thể. Các nhà quản lý tuân theo quan điểm tình huống sẽ năng động áp dụng, hoặc thuyết truyền thống, hoặc thuyết hành vi, hoặc thuyết hệ thống, hoặc kết hợp chúng để giải quyết những vấn đề quản lý cụ thể tuỳ tình huống, tuỳ hoàn cảnh đặt ra. Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật bản, người ta bắt đầu chú ý tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến những thành công đó.
Cụm từ "văn hoá tổ chức" đã được các chuyên gia nghiên cứu về tổ chức và các nhà quản lý sử dụng để chỉ một trong những tác nhân chủ yếu. Văn hoá tổ chức là quan niệm giá trị cơ bản của tổ chức được toàn thể các thành viên trong tổ chức tự giác chấp nhận. Nó quy định cung cách tư duy, cung cách hành động của mọi thành viên trong tổ chức, đến mức trở thành những thói quen, nếp nghĩ của mọi người. Một tổ chức mạnh là tổ - 11 - z chức tạo được nền văn hoá của nó gồm những giá trị cơ bản, ý thức trách nhiệm của tất cả các thành viên trong tổ chức, một không khí tâm lý thúc đẩy mọi người phấn đấu, góp phần tích cực cho quá trình đổi mới và phát triển của tổ chức.
Một tổ chức có văn hoá mạnh sẽ là nền tảng để xây dựng tổ chức biết học hỏi. Tổ chức biết học hỏi được quan niệm là một triết lý, một thái độ, một cách tiếp cận mới đối với thực tiễn xây dựng và quản lý tổ chức, đó là tổ chức mà trong đó mọi thành viên được huy động, lôi cuốn vào việc tìm kiếm, phát hiện và giải quyết vấn đề, vào việc làm cho tổ chức có khả năng thực nghiệm cách làm mới, để biến đổi, phát triển và cải tiến liên tục nhằm đẩy nhanh khả năng tăng trưởng của tổ chức, khiến tổ chức có thể đạt được mục tiêu của mình một cách tốt đẹp nhất. Như vậy, trên thực tiễn các ngành công nghiệp, các hoạt động kinh doanh đã bùng phát rất đa dạng những cơ cấu quản lý, những phương pháp và quan điểm quản lý. Tuy có sự khác biệt văn hoá giữa các thiết chế giáo dục với các tổ chức khác, song các nhà quản lý giáo dục cũng có thể gạn lọc trong những thành tựu đó nhiều điều bổ ích để vận dụng được vào hoạt động quản lý giáo dục ở các cơ sở giáo dục.
Xây dựng tập thể sư phạm nhà trường thành một tổ chức biết học hỏi là một sự vận dụng lý luận quản lý và tổ chức hiện đại vào thực tiễn quản lý nhà trường. Một tổ chức theo kiểu truyền thống muốn trở thành một tổ chức biết học hỏi phải đứng trước nhiều thử thách, nó đòi hỏi một người lãnh đạo với những vai trò mới. Trong một môi trường luôn luôn phát triển, chỉ bằng cách trở thành một tổ chức biết học hỏi, tập thể sư phạm mới có thể ứng phó với những thách thức mà nhà trường hiện nay đang phải đối mặt. Và đó cũng là một yếu tố hết sức quan trọng để xây dựng văn hoá nhà trường.
Những vấn đề lý luận về tổ chức 1. Khái niệm tổ chức Khi nói về hoạt động quản lý và người quản lý, cần khởi đầu từ khái niệm tổ chức. - 12 - z Khi nói đến tổ chức người ta nói đến một nhóm chính thức. Nó được thừa nhận về mặt pháp lý.
Mục tiêu hoạt động và nội dung hoạt động của nó phải xuất phát từ lợi ích xã hội. Theo hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con người riêng lẻ không thể nào đạt đến. Về bản chất, đó là một chất lượng mới, một chỉnh thể có sức mạnh lớn hơn sức mạnh của những cá nhân tạo nên nó cộng lại.[5] Tổ chức không phải là những tập hợp tách rời, riêng rẽ, tự nó theo đuổi một mục đích chung nào đó, mà tổ chức là những yếu tố của những hệ thống nhất định, xuất hiện và tồn tại như là sản phẩm của một hệ thống, vận hành như là sự thực hiện chức năng của hệ thống. Tổ chức là một tập hợp người tạo thành một chỉnh thể, có cấu tạo, cấu trúc và có những chức năng nhất định.Do đó, tổ chức còn là một bộ phận của xã hội, được thừa nhận, được giao nhiệm vụ và mục đích hướng tới của bản thân tổ chức cũng chính là các nhiệm vụ mà nó phải thực hiện đối với xã hội.
Với khái niệm này, chúng ta thấy tổ chức có những đặc điểm cơ bản sau: - Là một nhóm người cùng nhau tiến hành hoạt động chung (có cùng động cơ, mục đích hoạt động, cùng thực hiện các nhiệm vụ chung). - Hoạt động chung này được tổ chức rất chặt chẽ và có hiệu quả. - Ở đây rất cần có sự quan tâm đúng mức, hợp lý, hài hoà đến các lợi ích cá nhân và lợi ích chung, lợi ích của tổ chức và lợi ích của xã hội. Cấu trúc tổ chức Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, cấu trúc tổ chức là một hệ thống chính thức các quan hệ công tác về hai phía: phân chia và kết hợp các công việc, các hoạt động trong một tổ chức.
Các yếu tố cơ bản của cấu trúc tổ chức: Bao gồm phân chia công việc, tiêu chuẩn hoá, sự điều phối và quyền hạn. - 13 - z Phân chia công việc là quá trình tạo nên những nhiệm vụ đơn giản hơn để các thành viên trong tổ chức có thể thực hiện thuận lợi và hợp logic. Tiêu chuẩn hoá là quá trình xây dựng các thủ tục bên trong một tổ chức để mỗi thành viên dựa vào đó mà hoàn thành công việc của mình theo một cách thống nhất. Căn cứ vào tiêu chuẩn, người quản lý có thể đo lường, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của nhân viên.
Sự điều phối là những thủ tục, quy trình cho phép liên kết các hoạt động được hoàn thành bởi các nhóm riêng rẽ trong một tổ chức. Quyền hạn ở đây chủ yếu là quyền ra quyết định và quyền hành động. Trong những tổ chức tập trung hoá cao, người quản lý cấp cao nắm quyền quyết định và sau đó truyền đạt cho cấp quản lý thấp hơn. Ngược lại, trong những tổ chức phi tập trung hoá, quyền ra quyết định được trao cho các cấp quản lý thấp hơn.
Lược đồ cấu trúc tổ chức Lược đồ cấu trúc tổ chức cho thấy mối liên hệ giữa các chức năng, các bộ phận và các vị trí người quản lý trong một tổ chức.