phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các bảng, biểu đồ, hình và phụ lục… nội dung chính gồm 181 trang được trình bày trong 3 chương, cụ thể Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính ngân hàng Chƣơng 2: Sự cần thiết hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng từ NHTM CP tại TP. HCM Chƣơng 3: Xây dựng tập đoàn tài chính ngân hàng từ NHTMCP tại TP. z -1- CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 1. TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1.
Các quan điểm về TĐKT TĐKT xuất hiện rất sớm khi nền sản xuất hàng hoá thế giới phát triển mạnh mẽ, khởi đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu cuối thế kỷ 19, đi cùng với đó là quá trình tích tụ và tập trung tư bản của các nhà tư bản. Ở thời điểm này nhiều công ty trước sức ép cạnh tranh để tồn tại đã bị thôn tính, hoặc tự nguyện tìm cách bắt tay sáp nhập, hợp nhất, liên kết với công ty khác trên cơ sở những liên minh hay tổ hợp để cộng tác làm ăn, phân chia thị trường và khai thác những tiềm năng riêng có của nhau với một danh nghĩa khác, hoặc một hình thức khác vững chắc hơn. Thực tế cho thấy TĐKT là một trong những nhân tố thúc đẩy và góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia khác nhau. TĐKT cũng là những lực lượng sản xuất tiến bộ thúc đẩy thay đổi các quan hệ sản xuất yếu kém không còn phù hợp tại những thời điểm lịch sử nhất định.
Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TĐKT nhưng chưa có một định nghĩa nào được xem là chuẩn nhất, bởi sự nhìn nhận ở các nước là hoàn toàn khác nhau. Tại các nước khác nhau TĐKT được gắn với những tên gọi khác nhau. Nhiều nước gọi TĐKT là “Group” hay “Business Group”. Ấn Độ gọi là “Business houses”.
Nhật Bản trước chiến tranh thế giới thứ hai gọi TĐKT là “Zaibatsu”, sau chiến tranh thế giới thứ hai gọi là “Keiretsu”. Hàn Quốc gọi là “Chaebol”. Trung Quốc gọi là tập đoàn Doanh nghiệp (Jituan Gongsi) hay chính xác hơn của thuật ngữ gọi là Tổng công ty. Nhật Bản, Keiretsu là một nhóm doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý z -2- nhưng nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ gắn bó, đan xen trên nhiều lĩnh vực: vốn, nhân lực, công nghệ, nguyên vật liêu, tiêu thụ sản phẩm…hay đó còn là các công ty có sự liên kết không chặt chẽ được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của các bên [15].
Tại Malaysia và Thái Lan, TĐKT được xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối quan hệ đầu tư, liên doanh, liên kết và hợp đồng. Nòng cốt của các tập đoàn là cơ cấu công ty mẹ - con tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ trong tổ chức và trong hoạt động. Các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập và thường hoạt động trên cùng một pháp lý, đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên với nhau là công ty mẹ. Trong đó các doanh nghiệp thành viên tham gia tập đoàn phải có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân độc lập.
Bản thân tập đoàn không có tư cách pháp nhân. Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến TĐKT người ta thường sử dụng các từ: Consortium, Conglomerate, Cartel, Trust, Alliance, Syndicate hay Group. Dựa vào ngôn ngữ từng nước, người ta có thể dùng nhiều từ khác nhau để khái niệm về TĐKT, tuy nhiên việc sử dụng từ ngữ nói về tập đoàn phần lớn phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại TĐKT. Nếu TĐKT tồn tại như là một thực thể có tư cách pháp nhân thì được gọi là Conglomerate hoặc Holding company.
Trong tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn, có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần như không liên hệ gì với nhau. Holding company (công ty mẹ) cũng rất thông dụng trên thế giới. Holding company là công ty sở hữu toàn diện, đa số, hay một phần cổ phiếu của một hay nhiều công ty con khác. Thường được gọi là công ty mẹ (parent company) vì công ty này luôn nắm số lượng cố phiếu đủ để quyết định đối với công ty con (subsidiary) như quyết định người lãnh đạo và mục tiêu phát triển [16].
Hiện có một số định nghĩa khác nhau về TĐKT: - TĐKT là một tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các thị z -3- trường khác nhau nhưng có sự kiểm soát về tài chính hoặc quản trị chung, trong đó các thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệ tin cậy trên cơ sở sắc tộc hoặc điều kiện thương mại. - TĐKT là một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau trong một thời gian dài và cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho nhau. - TĐKT dựa trên hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ thông qua mối ràng buộc trung gian, một mặt ngăn ngừa sự liên minh ngắn hạn ràng buộc đơn thuần giữa các công ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công ty sát nhập với nhau thành một tổ chức duy nhất. Sự đa dạng về tên gọi hay thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của TĐKT, tính đến nay khái niệm về TĐKT vẫn còn nhiều điểm chưa được thống nhất về nội hàm nên vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về TĐKT: - Thứ nhất: TĐKT là pháp nhân kinh tế do nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tài chính.
TĐKT ra đời trên cơ sở liên kết nhiều doanh nghiệp, những doanh nghiệp này trở thành thành viên của tập đoàn, hoạt động vì mục tiêu chung của tập đoàn và phát triển theo chiến lược của tập đoàn. Theo quan điểm này, TĐKT là loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn. - Thứ hai: theo một số nhà nghiên cứu thì TĐKT là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm một công ty mẹ và một hay nhiều công ty con, góp vốn cổ phần, chịu sự kiểm soát của công ty mẹ vì công ty mẹ chiếm 1/2 vốn cổ phần. - Thứ ba: một số nhà nghiên cứu cho rằng tập đoàn các doanh nghiệp, thường gọi là TĐKT, là một loại hình tổ chức kinh tế chỉ hình thành và tồn tại trong nền kinh tế thị trường.
Đó là một loại hình tổ chức kinh tế được hình thành trong quá trình tự liên kết của nhiều công ty, xí nghiệp z -4- của nhiều chủ sở hữu khác nhau, hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành, thực hiện tập trung tư bản, đẩy mạnh phân công chuyên môn hoá và đầu tư theo chiều sâu, nhanh chóng đổi mới công nghệ, nhằm đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh để giành lợi nhuận siêu ngạch từ lợi thế hoặc độc quyền. Theo điều 149, Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005 thì TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định, hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của TĐKT. Theo điều 146 của Luật Doanh nghiệp thì: “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác”.
Mặc dù còn có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng theo tác giả, TĐKT có thể được hiểu:“là tổ hợp hay nhóm các doanh nghiệp hoạt động trong một hay nhiều lĩnh vực khác nhau, ở phạm vi một hay nhiều nước; trong đó có một doanh nghiệp (hay công ty mẹ) nắm quyền lãnh đạo, kiểm soát, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp (hay công ty con) thông qua cơ chế giám sát thích hợp. TĐKT là cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường, tập trung năng lực hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp”. Một số đặc trƣng của TĐKT 1. Các TĐKT có quy mô lớn và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau Điểm nổi bật của các TĐKT là quy mô lớn so các doanh nghiệp thông thường do sáp nhập, mua lại hoặc hợp nhất từ nhiều doanh nghiệp khác nhau.
Quy mô lớn thể hiện nổi bật ở các khía cạnh như tổng tài sản, vốn hóa thị trường, lợi nhuận, lao động (xem bảng 1.1: Các tập đoàn kinh tế lớn nhất thế giới năm 2011 Đơn vị tính: tỷ đô la TT Tên tập đoàn Quốc gia Tổng tài sản Lợi nhuận 1 Wal-Mart Mỹ 181 16.4 2 Royal Dutch Shell Hà Lan 322 20 3 ExxonMobile Mỹ 302 30 4 BP Anh 272 -3.7 5 Sinopec Group Trung Quốc 225 7.6 6 China national petrleum Trung Quốc 399 14 7 State Grid Trung Quốc 315 4.5 8 Toyota Motor Nhật 360 4.7 9 Japan Post Holdings Nhật 3.9 10 Chevron Mỹ 185 19 (Nguồn: tổng hợp và tính toán từ www.com) [51] Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực là xu hướng có tính chất chung cùng với sự phát triển của các TĐKT. Ví dụ, Mitsubishi ban đầu hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng đến nay đã mở rộng sang: khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất, ngân hàng, bảo hiểm, ngoại thương, vận tải. Tập đoàn Petronas (Malaysia) trước hoạt động chủ yếu trong ngành dầu khí nhưng hiện nay đã hoạt động trong các lĩnh vực: thăm dò, khai thác dầu khí, lọc dầu, hóa dầu, kinh doanh thương mại các sản phẩm dầu khí, hàng hải, kinh doanh bất động sản, siêu thị và giải trí. Mặc dù hoạt động đa ngành song các TĐKT trên thế giới thường tập trung đầu tư vào một số hoặc một nhóm sản phẩm, dịch vụ hoặc ngành hàng, ngành nghề chủ yếu nào đó nên thường chiếm phần lớn thị phần với những mặt hàng chủ đạo của tập đoàn đó và vì vậy, có doanh thu rất cao so thị phần trong phạm vi quốc gia, kể cả quốc tế [10].
z -6- Về lao động, các TĐKT mà nhất là tập đoàn đa quốc gia thường thu hút một số lượng rất lớn lao động ở chính quốc và ở các quốc gia khác. Ví dụ, tập đoàn Danone (Pháp) chuyên sản xuất sữa tươi, bánh bích quy, thực phẩm, nước khoáng, bia… có 81. Tập đoàn Fiat (Italia) có 242. Tập đoàn Air France (Pháp) bao gồm 16 công ty con với 45.