Luận văn: Xây dựng tài liệu tự học Vật lí 11 (Điện tích - Điện trường)

Chuyên khảo Tài liệu tự học vật lí 11: chương điện tích - điện trường phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực điện - điện tử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

Năm 2021

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

3. Mục tiêu của đề tài

4. Giả thuyết khoa học của đề tài

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1. Đối tượng nghiên cứu

5.2. Phạm vi nghiên cứu

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Đóng góp của đề tài

9. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG TAÌ LIỆU HỖ TRỢ TỰ HỌC CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH. ĐIỆN TRƯỜNG”- VẬT LÍ 11

1.1. Dạy học và xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

1.1.1. Những quan điểm về dạy học

1.1.2. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

1.2. Cơ sở lí luận của tự học

1.2.1. Khái niệm tự học

1.2.2. Các hình thức tự học

1.2.3. Vai trò, tác dụng của tự học

1.2.4. Các kĩ năng tự học cần rèn luyện cho học sinh

1.3. Năng lực tự học

1.3.1. Các năng lực thành tố của năng lực tự học

1.3.2. Các biểu hiện của năng lực tự học

1.3.3. Đánh giá năng lực tự học

1.4. Cơ sở lí luận của việc xây dựng tài liệu hỗ trợ học sinh tự học

1.4.1. Thế nào là tài liệu hỗ trợ học sinh tự học

1.4.2. Nguyên tắc của việc xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học

1.4.3. Tác dụng của tài liệu hỗ trợ đối với người tự học

1.4.4. Cơ sở của việc xây dựng tài liệu hỗ trợ tự học

1.5. Cơ sở của việc tổ chức hỗ trợ tự học

1.5.1. Đặc điểm hoạt động của tổ chức dạy học tự học

1.5.2. Nguyên tắc tổ chức hỗ trợ học sinh tự học

1.5.3. Quy trình hỗ trợ học sinh tự học

1.6. Thực trạng về hoạt động tự học Vật Lí của học sinh và việc hỗ trợ học sinh tự học của giáo viên ở một số trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng

1.6.1. Mục tiêu điều tra

1.6.2. Đối tượng và phương pháp điều tra

1.6.3. Kết quả điều tra

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TÀI LIỆU HỖ TRỢ TỰ HỌC CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH. ĐIỆN TRƯỜNG” VẬT LÍ 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

2.1. Đặc điểm, cấu trúc, nội dung chương “Điện tích. Điện trường”

2.1.1. Vị trí chương “Điện tích. Điện trường” trong chương trình VLPT

2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Điện tích. Điện trường”

2.1.3. Mục tiêu chi tiết chương “Điện tích. Điện trường” Vật lí 11

2.2. Nguyên tắc của việc xây dựng tài liệu hỗ trợ học sinh tự học

2.3. Tài liệu hỗ trợ học sinh tự học chương ‘Điện tích. Điện trường’ Vật Lí 11 cơ bản

2.3.1. Định luật Cu-lông

2.3.2. Bài 2: Thuyết êlectron. Định luật bảo toàn điện tích

2.3.3. Bài 3: Điện trường và cường độ điện trường. Đường sức điện

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.2. Đối tượng, nội dung của thực nghiệm sư phạm

3.2.1. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm

3.2.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.3.1. Chọn mẫu thực nghiệm

3.3.2. Phương pháp tiến hành

3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Kết quả thu được khi dạy thực nghiệm bài 1: “Điện tích. ĐỊnh luật Cu-lông” (1 tiết)

3.4.2. Kết quả thu được khi dạy thực nghiệm bài 2: “ Thuyết electron. Định luật bảo toàn điện tích” ( 1 tiết)

3.4.3. Kết quả thu được khi dạy thực nghiệm bài 3: “Điện trường và cường độ điện trường. Đường sức điện” (1 tiết)

3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.5.1. Xây dựng tiêu chí đánh giá các mức độ đạt được của NLTH của HS

3.5.2. Đánh giá việc bồi dưỡng NLTH của HS

3.5.3. Đánh giá kết quả thông qua bài kiểm tra

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện tự học Vật lí 11 Điện tích Điện trường

Chương “Điện tích - Điện trường” là chương mở đầu và là nền tảng quan trọng trong chương trình Vật lí 11. Việc nắm vững kiến thức chương này không chỉ giúp đạt điểm cao mà còn tạo cơ sở để tiếp thu các chương sau như “Dòng điện không đổi” hay “Dòng điện trong các môi trường”. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa kiến thức, cung cấp phương pháp tự học hiệu quả, và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Theo nghiên cứu của Mai Thị Sang (2021), việc xây dựng một lộ trình học tập có cấu trúc rõ ràng là yếu tố then chốt để phát triển năng lực tự học. Nội dung chương xoay quanh các khái niệm cốt lõi về điện tích, lực tương tác giữa chúng, và môi trường truyền tương tác là điện trường. Các định luật và nguyên lí cơ bản như định luật Cu-lông (Coulomb)nguyên lí chồng chất điện trường là công cụ toán học chủ đạo để mô tả các hiện tượng tĩnh điện. Bên cạnh đó, các đại lượng vật lí đặc trưng cho điện trường như cường độ điện trường, điện thế, và hiệu điện thế cũng được giới thiệu chi tiết. Cuối cùng, chương học đề cập đến một linh kiện quan trọng là tụ điện, cùng với các khái niệm liên quan như điện dungnăng lượng điện trường. Việc tự học hiệu quả đòi hỏi người học phải xác định rõ mục tiêu, xây dựng kế hoạch và chủ động tìm kiếm, xử lý thông tin. Tài liệu này sẽ là một công cụ hỗ trợ đắc lực trong quá trình đó.

1.1. Vị trí và tầm quan trọng của chương trong Vật lí 11

Chương “Điện tích - Điện trường” chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Vật lí phổ thông. Đây là chương đầu tiên của Vật lí 11, đặt nền móng cho toàn bộ phần Điện học. Kiến thức về lực điện, điện trường là cơ sở để giải thích sự tồn tại và các đặc tính của dòng điện không đổi. Hơn nữa, các khái niệm như hiệu điện thếnăng lượng điện trường sẽ được vận dụng và phát triển trong các chương trình Vật lí 12, đặc biệt là trong chương “Dao động và sóng điện từ”. Việc không nắm vững các khái niệm cơ bản như điện tích điểm hay vector cường độ điện trường sẽ gây ra khó khăn rất lớn khi học các phần kiến thức phức tạp hơn. Do đó, đầu tư thời gian để tự học và hiểu sâu sắc chương này là một chiến lược học tập thông minh, đảm bảo sự thành công cho cả năm học.

1.2. Cấu trúc nội dung và mục tiêu học tập cốt lõi

Cấu trúc nội dung chương được thiết kế logic, đi từ các khái niệm cơ bản đến các ứng dụng phức tạp. Ban đầu, học sinh sẽ làm quen với điện tích thông qua thuyết electronđịnh luật bảo toàn điện tích. Tiếp theo, trọng tâm là định luật Cu-lông (Coulomb) mô tả tương tác giữa các điện tích. Từ đó, khái niệm điện trường được xây dựng như một môi trường vật chất bao quanh điện tích. Các đại lượng đặc trưng cho điện trường như cường độ điện trườngđường sức điện được phân tích kỹ lưỡng. Sau đó, chương học đi sâu vào các khía cạnh năng lượng thông qua công của lực điệnđiện thế. Cuối cùng là giới thiệu về tụ điện, một ứng dụng thực tiễn của hiện tượng tĩnh điện. Mục tiêu chính là học sinh phải giải thích được các hiện tượng nhiễm điện, áp dụng định luật Cu-lông, tính toán được cường độ điện trường tổng hợp, và hiểu rõ nguyên lí hoạt động của tụ điện.

II. Cách vượt qua 5 thách thức lớn khi tự học Vật lí 11 chương 1

Việc tự học chương “Điện tích - Điện trường” thường gặp nhiều khó khăn do tính trừu tượng của các khái niệm. Nhiều học sinh cảm thấy lúng túng khi phải hình dung về một thực thể không nhìn thấy được như điện trường. Thách thức lớn nhất là việc chuyển đổi từ các mô tả định tính sang việc áp dụng các công thức toán học một cách chính xác. Ví dụ, việc xác định phương, chiều của vector cường độ điện trường do nhiều điện tích gây ra đòi hỏi kỹ năng tổng hợp vector vững vàng. Sai lầm phổ biến là chỉ tính toán độ lớn mà bỏ qua yếu tố hướng, dẫn đến kết quả sai lệch. Một khó khăn khác nằm ở việc phân biệt các khái niệm gần giống nhau như điện thếhiệu điện thế, hay nhầm lẫn giữa công của lực điện và thế năng tĩnh điện. Nghiên cứu thực tiễn cho thấy, nếu không có sự hướng dẫn và tài liệu hỗ trợ phù hợp, học sinh dễ nản lòng và hình thành các lỗ hổng kiến thức khó bù đắp. Việc nhận diện sớm các thách thức này và có phương pháp tiếp cận phù hợp là chìa khóa để chinh phục thành công chương học quan trọng này. Các phần tiếp theo sẽ cung cấp những giải pháp cụ thể để giải quyết từng vấn đề.

2.1. Phân biệt các khái niệm trừu tượng vật dẫn và vật cách điện

Một trong những rào cản đầu tiên là sự trừu tượng của các khái niệm. Điện tích, điện trường đều là những đối tượng không thể quan sát trực tiếp. Để vượt qua điều này, cần liên hệ chúng với những hiện tượng thực tế (tóc bị hút vào lược nhựa, tia sét). Bên cạnh đó, việc phân biệt rõ ràng giữa vật dẫn điệnvật cách điện dựa trên mật độ electron tự do là rất quan trọng. Trong vật dẫn điện, các electron tự do có thể di chuyển khắp vật, cho phép điện tích phân bố lại dễ dàng. Ngược lại, trong vật cách điện (điện môi), electron liên kết chặt chẽ với hạt nhân, hạn chế sự di chuyển của điện tích. Hiểu rõ bản chất này giúp giải thích tại sao kim loại dẫn điện tốt trong khi nhựa lại là chất cách điện, cũng như cơ sở của hiện tượng nhiễm điện do hưởng ứng.

2.2. Sai lầm thường gặp khi áp dụng định luật Cu lông Coulomb

Định luật Cu-lông là công cụ toán học cơ bản nhưng lại tiềm ẩn nhiều lỗi sai. Lỗi phổ biến nhất là quên bình phương khoảng cách (r²) trong mẫu số của công thức. Một sai lầm khác là áp dụng sai giá trị của hằng số điện môi (ε). Cần nhớ rằng hằng số này phụ thuộc vào môi trường đặt các điện tích; trong chân không hoặc không khí, ε ≈ 1, nhưng trong các môi trường khác như dầu hoặc nước, giá trị này lớn hơn 1 và làm giảm lực tương tác. Ngoài ra, học sinh thường quên rằng lực Cu-lông là một đại lượng vector. Khi tính lực tổng hợp tác dụng lên một điện tích điểm, phải thực hiện phép cộng vector chứ không phải cộng đại số các độ lớn. Việc vẽ hình, biểu diễn các vector lực một cách chính xác là bước không thể bỏ qua để tránh sai sót.

III. Bí quyết nắm vững kiến thức nền Điện tích và Định luật bảo toàn

Nền tảng của toàn bộ chương học nằm ở việc hiểu sâu sắc về bản chất của điện tích và các định luật liên quan. Mọi hiện tượng tĩnh điện đều bắt nguồn từ sự tồn tại và tương tác của các hạt mang điện. Thuyết electron cung cấp một mô hình vi mô để giải thích các hiện tượng nhiễm điện thông qua sự di chuyển của các electron. Từ thuyết này, một trong những định luật cơ bản nhất của tự nhiên được phát biểu: định luật bảo toàn điện tích. Định luật này khẳng định rằng trong một hệ cô lập về điện, tổng đại số của các điện tích là một hằng số. Điều này có nghĩa là điện tích không tự sinh ra hay mất đi, mà chỉ di chuyển từ vật này sang vật khác hoặc từ phần này sang phần khác của một vật. Hiểu rõ nguyên lí này giúp giải quyết các bài toán về nhiễm điện do tiếp xúc hoặc hưởng ứng. Song song với đó, cần phân biệt rõ hai loại điện tích (dương và âm) và quy tắc tương tác giữa chúng: các điện tích cùng dấu đẩy nhau, trái dấu hút nhau. Đây là những kiến thức cốt lõi, làm tiền đề để tiếp cận định luật Cu-lông (Coulomb) và khái niệm điện trường một cách tự tin và chính xác.

3.1. Giải mã bản chất hiện tượng nhiễm điện qua thuyết electron

Thuyết electron là chìa khóa để hiểu mọi hiện tượng nhiễm điện. Theo thuyết này, nguyên tử gồm hạt nhân mang điện dương và các electron mang điện âm chuyển động xung quanh. Bình thường, nguyên tử trung hòa về điện. Một vật nhiễm điện âm khi nó nhận thêm electron và nhiễm điện dương khi nó mất bớt electron. Quá trình này tuân thủ nghiêm ngặt định luật bảo toàn điện tích. Ví dụ, khi cọ xát thước nhựa vào mảnh vải len, electron di chuyển từ len sang thước nhựa. Kết quả là thước nhựa nhiễm điện âm (thừa e) và mảnh len nhiễm điện dương (thiếu e) với độ lớn điện tích bằng nhau. Việc nắm vững thuyết electron giúp giải thích một cách nhất quán cả ba hình thức nhiễm điện: cọ xát, tiếp xúc và hưởng ứng.

3.2. Vận dụng định luật Cu lông cho các bài toán điện tích điểm

Định luật Cu-lông (Coulomb) mô tả định lượng lực tương tác giữa hai điện tích điểm đứng yên. Biểu thức của định luật cho thấy độ lớn lực điện tỉ lệ thuận với tích độ lớn hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Lực này có phương nằm trên đường thẳng nối hai điện tích. Để vận dụng hiệu quả, cần xác định đúng các yếu tố: dấu của điện tích để suy ra lực hút hay đẩy, khoảng cách chính xác giữa hai điện tích, và môi trường xung quanh để chọn hằng số điện môi phù hợp. Đối với hệ nhiều điện tích, cần áp dụng thêm nguyên lí chồng chất, tính lực do từng điện tích tác dụng lên điện tích đang xét rồi tổng hợp vector để tìm hợp lực cuối cùng.

IV. Phương pháp làm chủ khái niệm Điện trường và Cường độ điện trường

Điện trường là một khái niệm trung tâm, đóng vai trò là môi trường truyền tương tác điện. Thay vì tác dụng trực tiếp lên nhau từ xa, các điện tích tạo ra một điện trường xung quanh chúng, và chính điện trường này tác dụng lực lên các điện tích khác đặt trong nó. Để đặc trưng cho độ mạnh yếu của điện trường tại một điểm, người ta dùng đại lượng cường độ điện trường (E), được định nghĩa là lực điện tác dụng lên một đơn vị điện tích dương thử đặt tại điểm đó. Vì lực là đại lượng vector nên vector cường độ điện trường cũng là một đại lượng vector, có cùng phương chiều với lực điện tác dụng lên điện tích dương. Việc mô tả điện trường một cách trực quan được thực hiện thông qua hệ thống các đường sức điện. Đây là những đường cong được vẽ sao cho tiếp tuyến tại mỗi điểm trùng với phương của vector cường độ điện trường tại điểm đó. Mật độ của các đường sức điện cho biết nơi nào điện trường mạnh hay yếu. Một trường hợp đặc biệt quan trọng là điện trường đều, nơi các đường sức điện song song và cách đều nhau, và vector cường độ điện trường tại mọi điểm là như nhau.

4.1. Cách xác định vector cường độ điện trường và đường sức điện

Để xác định vector cường độ điện trường do một điện tích điểm Q gây ra tại một điểm M, ta áp dụng công thức E = k|Q|/εr². Về phương, vector E nằm trên đường thẳng nối Q và M. Về chiều, nếu Q > 0, E hướng ra xa Q; nếu Q < 0, E hướng về phía Q. Các đường sức điện của một điện tích điểm dương là các tia thẳng hướng ra vô cực. Ngược lại, của một điện tích điểm âm là các tia thẳng từ vô cực đi vào điện tích. Đối với hệ hai điện tích, các đường sức sẽ bị uốn cong. Quy ước vẽ đường sức điện giúp hình dung cấu trúc không gian của điện trường một cách trực quan, ví dụ, nơi nào đường sức dày đặc thì điện trường mạnh và ngược lại.

4.2. Áp dụng nguyên lí chồng chất điện trường cho hệ nhiều điện tích

Khi một điểm M nằm trong điện trường của nhiều điện tích điểm Q1, Q2, Q3,... thì điện trường tổng hợp tại M được xác định theo nguyên lí chồng chất điện trường. Nguyên lí này phát biểu rằng: Vector cường độ điện trường tổng hợp tại một điểm bằng tổng vector của các cường độ điện trường do từng điện tích riêng lẻ gây ra tại điểm đó (E_M = E_1 + E_2 + E_3 + ...). Để áp dụng, ta cần thực hiện các bước: 1) Xác định vector cường độ điện trường E1, E2,... do từng điện tích gây ra tại M. 2) Vẽ các vector này trên cùng một hình. 3) Sử dụng quy tắc hình bình hành hoặc phương pháp chiếu để tìm vector tổng hợp E_M. Đây là một kỹ năng quan trọng để giải quyết các bài toán phức tạp về điện trường.

V. Kỹ thuật tính toán Công Điện thế Hiệu điện thế và Tụ điện

Các khái niệm về năng lượng trong điện trường là một phần kiến thức nâng cao nhưng vô cùng quan trọng. Khi một điện tích di chuyển trong điện trường, lực điện sẽ sinh ra một công, gọi là công của lực điện. Một đặc điểm nổi bật là công này không phụ thuộc vào hình dạng đường đi mà chỉ phụ thuộc vào vị trí điểm đầu và điểm cuối, cho thấy lực điện là một lực thế. Để đặc trưng cho khả năng sinh công của điện trường, người ta đưa ra khái niệm điện thế (V) tại một điểm, là đại lượng đặc trưng cho thế năng điện tại điểm đó. Sự chênh lệch điện thế giữa hai điểm được gọi là hiệu điện thế (U), và nó liên quan trực tiếp đến công dịch chuyển điện tích giữa hai điểm đó qua công thức A = qU. Từ những cơ sở này, chương học giới thiệu tụ điện - một hệ hai vật dẫn đặt gần nhau và ngăn cách bởi một lớp cách điện. Tụ điện có khả năng tích điện và lưu trữ năng lượng dưới dạng năng lượng điện trường. Đại lượng đặc trưng cho khả năng tích điện của tụ là điện dung của tụ điện (C). Việc hiểu rõ cách ghép tụ điện nối tiếpghép tụ điện song song là cần thiết để giải quyết các bài toán về mạch điện.

5.1. Mối quan hệ giữa công của lực điện và hiệu điện thế

Công của lực điện khi dịch chuyển một điện tích q từ điểm M đến điểm N được tính bằng công thức A_MN = q * E * d, trong đó d là hình chiếu của quãng đường dịch chuyển lên phương của đường sức điện. Mối liên hệ cốt lõi giữa công và hiệu điện thế được thể hiện qua biểu thức U_MN = V_M - V_N = A_MN / q. Biểu thức này cho thấy hiệu điện thế giữa hai điểm chính là công dịch chuyển một đơn vị điện tích dương giữa hai điểm đó. Hiểu rõ mối quan hệ này giúp việc tính toán trở nên linh hoạt. Ví dụ, nếu biết hiệu điện thế giữa hai điểm, có thể dễ dàng tính được công dịch chuyển một điện tích bất kỳ mà không cần quan tâm đến cường độ điện trường hay quãng đường cụ thể.

5.2. Phân tích cách ghép tụ điện nối tiếp và ghép tụ điện song song

Có hai cách cơ bản để ghép các tụ điện thành một bộ. Khi ghép tụ điện nối tiếp, bản âm của tụ trước được nối với bản dương của tụ sau. Trong cách ghép này, các tụ có cùng điện tích (Q = Q1 = Q2 = ...) và hiệu điện thế của bộ bằng tổng các hiệu điện thế (U = U1 + U2 + ...). Điện dung tương đương của bộ được tính theo công thức 1/C_b = 1/C1 + 1/C2 + ... Khi ghép tụ điện song song, các bản dương được nối chung với nhau và các bản âm cũng vậy. Lúc này, các tụ có cùng hiệu điện thế (U = U1 = U2 = ...) và điện tích của bộ bằng tổng các điện tích (Q = Q1 + Q2 + ...). Điện dung tương đương được tính bằng C_b = C1 + C2 + .... Nắm vững các quy tắc này là kỹ năng cơ bản để phân tích các mạch chứa tụ điện.

5.3. Hiểu về điện dung của tụ điện và năng lượng điện trường

Điện dung của tụ điện (C) là đại lượng đặc trưng cho khả năng tích điện của tụ, được định nghĩa bằng tỉ số giữa điện tích Q của tụ và hiệu điện thế U giữa hai bản của nó: C = Q/U. Điện dung chỉ phụ thuộc vào cấu tạo hình học của tụ và hằng số điện môi của lớp điện môi giữa hai bản, không phụ thuộc vào Q hay U. Khi một tụ điện được tích điện, nó sẽ lưu trữ năng lượng. Năng lượng này được gọi là năng lượng điện trường, tập trung trong không gian giữa hai bản tụ. Năng lượng này được tính bằng các công thức W = (QU)/2 = (CU²)/2 = Q²/(2C). Đây chính là năng lượng mà tụ điện có thể giải phóng ra mạch ngoài khi nó phóng điện.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG TAÌ LIỆU HỖ TRỢ TỰ HỌC CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH. ĐIỆN TRƯỜNG”- VẬT LÍ 11 1. Dạy học và xu hướng đổi mới phương pháp dạy học 1. Những quan điểm về dạy học 1.

Dạy theo theo quan điểm truyền thống Theo như quan điểm truyền thống, dạy học là hoạt động truyền đạt kiến thức ở trên lớp của giáo viên. Giáo viên là trung tâm quyết định chất lượng của quá trình dạy học. Nội dung dạy học mang tính áp đặt, bắt buộc, được qui định trong những chương trình khép kín. Phương pháp dạy học chủ yếu là truyền đạt, thông báo kiến thức.

Học sinh hoàn toàn bị động, chịu sự điều khiển và kiểm tra của giáo viên, cách học của họ chủ yếu là nghe, hiểu và ghi nhớ. Dạy học theo quan điểm hiện đại Đối với quan điểm hiện đại, dạy học là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong đó giáo viên đóng vai trò chủ đạo tổ chức hướng dẫn và điều khiển hoạt động của học sinh. Học sinh chủ động nhận thức lại nền văn minh nhân loại và rèn luyện hình thành kĩ năng hoạt động, tạo lập thái độ sống tốt đẹp [18, Tr.

Giờ học là sự phối hợp hoạt động của giáo viên và học sinh từ lập kế hoạch đến thực hiện cũng như kiểm tra đánh giá. Dạy học theo hướng giải quyết vấn đề, định hướng hành động. Các nội dung dạy học là những nội dung tiêu biểu, có ý nghĩa thực tiễn xã hội, có sự thoả thuận giữa người dạy và người học. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Chiến lược phát triển giáo dục (2011-2020) đã chỉ rõ: Một trong những giải pháp thực hiện mục tiêu giáo dục là đổi mới phương pháp giáo dục: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học…"[5] Hiện nay, trong hệ thống phương pháp dạy học đang nổi lên các phương pháp dạy lấy học sinh làm trung tâm: "Phương pháp dạy học tích cực", " Phương pháp khám phá".

Nói chung với các phương pháp này, người học giữ vai trò chủ động tích cực trong học tập và không còn ở thế thụ động như trước đây. Hay nói cách khác "giáo viên không còn là là người truyền đạt kiến thức sẵn có mà là người định hướng, tổ 6 chức cho học sinh tự khám phá, tự tìm ra tri thức". Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phương pháp dạy học coi trọng việc rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, học sinh tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Cơ sở lí luận của tự học 1.

Khái niệm tự học Theo từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển Bách khoa 2001: “…tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”. Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. 60-61] Theo Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”. 56] Từ những nhận định trên, theo quan điểm của tôi: “Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân người học.

Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lí, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định. Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo cho hôm nay và mai sau”. Các hình thức tự học 1. Tự học không có hướng dẫn Người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng tương ứng mà hoàn toàn không có sự hướng dẫn của GV.

Người học có thể tự học qua nhiều kênh khác nhau như qua tài liệu,tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác… 7 Với hình thức này người học phải tự mình lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức học. Đây là hình thức tự học ở mức cao, thường gặp ở người trưởng thành. Tuy nhiên, hình thức tự học này gây ra rất nhiều khó khăn cho người học bởi vì người tự học phải có rất nhiều kĩ năng như tìm tài liệu học, kĩ năng đọc, kĩ năng quan sát, kĩ năng vận dụng, kĩ năng lập kế hoạch…Một trở ngại không lớn là người học không thể tự kiểm tra đánh giá nên dễ gây chán nản và việc tự học dễ bị phá vỡ. Tự học có hướng dẫn Người học tự mình chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn của GV nhưng không trực tiếp gặp GV.

Ngày nay, sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và viễn thông tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho tự học có hướng dẫn nhưng GV và HS không giáp mặt. Người học có thể nhận được sự hướng dẫn của GV ở xa bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác. Tự học có hướng dẫn là chỉ cho người học cách thức để chiếm lĩnh tri thức một cách có hiệu quả, sáng tạo đồng thời hướng dẫn học sinh tự đánh giá năng lực của bản thân. Qua đó tự mỗi học sinh sẽ có những điều chỉnh phù hợp với việc học tập của mình.

Tự học có hướng dẫn trực tiếp Người học tự mình chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV. Người học tự học theo sự hướng dẫn của tài liệu và có sự giúp đỡ một phần của GV. Việc tự học có thể được tiến hành ngay tại lớp hoặc về nhà. Hình thức tự học này rất phù hợp với HS phổ thông vì nó tương đối phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi các em.

Vai trò, tác dụng của tự học Tự học có vai trò to lớn trong giáo dục, giúp hình thành nhân cách cho người học. Việc tự học, tự rèn luyện giúp cho họ có thói quen độc lập trong suy nghĩ, độc lập trong giải quyết các khó khăn gặp phải. Qua đó, giúp người học tự tin và thành công trong cuộc sống, có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi con người. Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức rất lớn với quỹ thời gian ít ỏi, hạn hẹp ở nhà trường.

Tri thức của nhân loại được tích luỹ từ đời này qua đời khác và hiện nay đang được nhân lên với tốc độ rất 8 nhanh, còn thời gian của nhà trường thì có hạn. Chỉ có tự học mới có thể giúp giải quyết được nghịch lí này.[3] Tự học với sự nỗ lực, tư duy sáng tạo là điều kiện thuận lợi cho người học hiểu tri thức một cách sâu sắc, tìm ra bản chất của chân lí. Mặt khác, tự học cũng là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ của người học. Bởi vì trong quá trình tự học họ luôn gặp phải những vấn đề mới và phải tự mình đi tìm giải pháp để giải quyết vấn đề.

Chỉ có tự học mới có thể giúp con người có thể “Học suốt đời”, không bị lạc hậu so với sự phát triển chung của nhân loại. Tự học trang bị cho người học những kiến thức mới nhất, khoa học nhất và cũng thu được những kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động để đi tới thành công. Theo Aditxterrec: “Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu đi chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của học sinh. Nắm vững kiến thức, thực sự lĩnh hội chân lí, cái đó học sinh phải tự làm lấy bằng trí tuệ của bản thân ”.

Như vậy, nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của người học thì kết quả thu được cũng không thể cao dù điều kiện ngoại cảnh (Thầy giỏi, tài liệu tốt) rất thuận tiện. Các kĩ năng tự học cần rèn luyện cho học sinh Kĩ năng tự học là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành công của quá trình tự học. Có thể kể đến một số nhóm kĩ năng cơ bản như sau: • Kĩ năng kế hoạch hoá việc tự học Biểu hiện đầu tiên của kĩ năng này là biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, trong tháng, trong năm…Khi xây dựng kế hoạch cần đảm bảo tính khả thi của kế hoạch. Muốn vậy, kế hoạch phải đảm bảo cho thời gian tự học tương xứng với lượng kiến thức của môn học; Đảm bảo sự xen kẽ giữa các môn học khác nhau, giữa các hình thức tự học khác nhau.

• Kĩ năng đọc Trong quá trình tự học, người học có thể phải đọc sách, đọc tài liệu hay đọc giáo trình…Khi đọc cần phải xác định rõ mục đích đọc và lựa chọn cách đọc phù hợp. Tập trung chú ý đọc sẽ không phải đọc lại nhiều lần. Khi đọc cần ghi chép và biết cách “hỏi sách” bằng cách đặt các câu hỏi, rồi tìm câu trả lời từ sách. Cuối cùng là hệ thống hoá những kiến thức thu được sau khi đọc.

• Kĩ năng nghe giảng và ghi chép bài giảng 9 Để nghe giảng có hiệu quả HS cần đọc lướt nội dung bài học để định hình kiến thức và đưa ra những câu hỏi cho bài học. Khi nghe giảng, cần tập trung nghe, phân tích nội dung nghe để tìm ra nội dung chính của bài học. Cần hỏi để hiểu rõ vấn đề còn khúc mắc, không nên vội vã kết luận một vấn đề khi chưa hiểu rõ về nó. Ghi chép cũng là một việc quan trọng trong quá trình nghe giảng.

Nên ghi chép theo cấu trúc của bài học, đồng thời phân tích chọn lọc thông tin để ghi theo ý của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ