đặt vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng con ngƣời mới Việt Nam trong cả quá trình tiến hành cách mạng: Từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), Bác Hồ kêu gọi nhân dân diệt giặc đói, diệt giặc dốt, đồng thời Bác quan tâm đề cập ngay đến vấn đề Xây dựng “Đời sống mới” cho nhân dân. Trong tác phẩm “Đời sống mới” của Hồ Chí Minh, dƣới bút danh Tân Sinh đƣợc viết vào tháng 3/1947, Ngƣời viết: “Ngƣời là gốc của làng, nƣớc. Nếu mọi ngƣời đều cố gắng làm đời sống mới, thì nhất định dân tộc sẽ phú cƣờng”.
Ngƣời khẳng định:“Cái mới không tự nhiên xuất hiện mà nó đƣợc kế thừa từ cái nền truyền thống”. “Đời sống mới không phải cái gỡ cũ cũng bỏ hết. Không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ.
Thí dụ ta phải bỏ hết tính lƣời biếng và tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhƣng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì ta phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tƣơng thân tƣơng ái, tận trung với nƣớc, tận hiếu với dân khi trƣớc.
Cái gì mới mà hay, thì phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp. Làm sao cho đời sống của dân ta, vật chất đƣợc đầy đủ hơn, tinh thần đƣợc vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới”.
Quan điểm của Đảng ta chỉ rõ phải gắn chặt xây dựng nếp sống mới với xây dựng con ngƣời mới. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã chỉ ra: “Hoàn cảnh nƣớc ta đòi hỏi và cho phép xây dựng sớm, 14 xây dựng từng bƣớc con ngƣời mới, không phải chờ đến sau khi phát triển cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”. “Xây dựng nền văn hóa mới và con ngƣời mới là điều cần và có thể thực hiện đƣợc từng bƣớc, từng phần ngay từ hôm nay. Trong chặng đƣờng trƣớc mắt này, có những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta bƣớc đầu tạo ra một xã hội đẹp về lối sống, về quan hệ giữa ngƣời và ngƣời, một xã hội trong đó nhân dân lao động cảm thấy sống hạnh phúc, tuy mức sống vật chất còn chƣa cao”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (khóa VIII) đã xác định nhiệm vụ cụ thể xây dựng con ngƣời Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau: - Có tinh thần yêu nƣớc, tự cƣờng dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vƣơn lên đƣa đất nƣớc thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. - Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung. - Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cƣơng phép nƣớc, quy ƣớc của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trƣờng sinh thái. - Lao động chăm chỉ với lƣơng tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, năng xuất cao vi lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
- Thƣờng xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực. “… tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trƣớc hết là trong các tổ chức Đảng và Nhà nƣớc, trong các đoàn thể quần chúng và gia đình. xây dựng nếp sống văn minh trong việc cƣới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma tuý, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công 15 cộng” (Phạm Duy Đức - Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng định hƣớng chăm lo phát triển văn hóa: “Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trƣờng văn hóa lành mạnh phong phú, đa dạng.
Đƣa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cƣ, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, đƣợc thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hàng ngày của cộng đồng và từng con ngƣời, tạo sức đề kháng đối với sản phẩm độc hại. Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dƣỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cƣới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm ma túy cờ bạc… góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con ngƣời Việt Nam…”.Trong Chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 với định hƣớng “Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế,… phát huy những giá trị tốt đẹp của các dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trƣờng văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử. Chú trọng xây dựng nhân cách con ngƣời Việt Nam về lý tƣởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống… 1. Sinh viên Sinh viên là ngƣời học tại các trƣờng đại học, cao đẳng.
Ở đó, họ đƣợc truyền đạt kiến thức một cách bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Sinh viên đƣợc xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt đƣợc trong quá trình học tập. Quá trình học của họ theo phƣơng pháp chính quy tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học. 16 Một tác giả ngƣời Ý đã định nghĩa về sinh viên nhƣ sau: “Một sinh viên đã, đang và sẽ luôn luôn là ngƣời học hỏi về cuộc sống, hành vi ứng xử, nhu cầu, hy vọng, thành công, thất bại của con ngƣời từ lúc bắt đầu của lịch sử đến thời điểm hiện tại, nhƣ một câu nói: “Hãy nghĩ về nguồn gốc của bạn, bạn không đƣợc tạo ra để sống nhƣ một động vật mà là để theo đuổi những phẩm chất và kiến thức”.
Đó cũng là mục đích của nhân loại: Học, học mãi, cố không lặp lại sai lầm và để trở thành những ngƣời xây dựng một thế giới mới, trong đó mọi ngƣời đều sống trong hòa bình và hạnh phúc. Lứa tuổi sinh viên (từ khoảng 18 -25 tuổi) có những nét khác biệt so với những lứa tuổi khác nhƣ: tự ý thức, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển, khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá, có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều ƣơc mơ và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách. Song do hạn chế về kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới. Khi bƣớc chân vào giảng đƣờng đại học, họ phải đối mặt với những thay đổi to lớn về nếp sinh hoạt hàng ngày và phƣơng pháp học tập.
Nếu nhƣ trong môi trƣờng học tập ở phổ thông, học sinh đƣợc trang bị kiến thức chung trong sự giám sát chặt chẽ của gia đình, thầy cô thì ở môi trƣờng đại học, sinh viên đƣợc trang bị những kiến thức chuyên môn để trở thành ngƣời lao động trong lĩnh vực mình đƣợc đào tạo. Hoạt động học tập của sinh viên gắn liền với tính tự giác, chủ động cao. Nếu nhƣ ở bậc phổ thông, các em đƣợc thầy cô hƣớng dẫn, giảng giải kỹ thì khi vào đại học, phƣơng pháp truyền thụ theo kiểu đọc - chép không còn phổ biến mà chủ yếu trang bị cho các em kỹ năng tự học tập, trau dồi tri thức thông qua hệ thống thƣ viện, phòng thí nghiệm…Đây là một đặc điểm quan trọng trong nhận thức và học tập của sinh viên. Cùng với hoạt động học tập, sự tự ý thức của sinh viên cũng hoàn thiện hơn.
Thông qua những mối quan hệ khác nhau cũng 17 nhƣ những tri thức có đƣợc, các em sẽ có những đánh giá phù hợp về bản thân mình hơn. Đây là cơ sở thuận lợi để mỗi sinh viên tự rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân. Đa số sinh viên có độ tuổi từ 18 -25. Đây có thể nói là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi con ngƣời vì vậy thế giới cảm xúc của sinh viên biểu hiện rất phong phú, sinh động trong đời sống hàng ngày.
Trong thế giới cảm xúc ấy không thể không nói tới tình yêu đôi lứa. Đó là tình cảm thiêng liêng khi các em đã có sự trƣởng thành về thể chất cũng nhƣ tâm sinh lý. Chính vì thế nó là một trong những động lực quan trọng để các em học tập, rèn luyện tuy nhiên cũng cần có sự định hƣớng đúng đắn của nhà trƣờng, gia đình để các em luôn thấy đƣợc trách nhiệm với bản thân, với điều kiện học tập của mình. Động cơ và định hƣớng giá trị của sinh viên cũng có sự phát triển phong phú, nó phản ánh mục đích học tập, phấn đấu, lý tƣởng sống, tình yêu với ngành học… Một sinh viên của thời đại ngày hôm nay phải là ngƣời sáng tạo và có khả năng hội nhập, thích nghi cao với mọi hoàn cảnh, là ngƣời mà ngoài chuyên môn của mình, phải học để biết thêm nhiều kỹ năng và hiểu biết xã hội, phải học hỏi, rèn luyện và có định hƣớng tốt để có thể đáp ứng nhu cầu của một xã hội hiện đại trong thời buổi toàn cầu hóa.
Sinh viên phải là những trí thức trẻ, khỏe, là tƣơng lai của đất nƣớc, của nhân loại cho nên họ luôn luôn phải vƣơn lên và không bao giờ ngại bỏ công sức để theo đuổi tri thức, theo đuổi ƣớc mơ. Đối với sinh viên, nếp sống văn hóa là một trong những nội dung quan trọng của đạo đức, nhân cách ; nó đƣợc biểu hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt, lao động, trong giao tiếp ứng xử… Nếp sống văn hóa của sinh viên phản ánh những đặc điểm, đặc trƣng của sinh viên thông qua những hoạt động sống phù hợp với những giá trị chuẩn mực đạo đức, văn hoá của xã hội.