MỞ ĐẦU Hiện nay trường đại học Xây dựng có khoảng 15.000 sinh viên và học viên đang theo học. Hàng ngày các phòng ban của trường nhận được rất nhiều các vấn đề thắc mắc của sinh viên và học viên về chương trình đào tạo, các thông tin về lịch học, lịch thi hay các quy định của nhà trường. Kênh thông tin chủ yếu của nhà trường là thông qua website chính thức hoặc trang quan ly đảo tạo của sinh viên. Các quy định hay các thông báo tới sinh viên chủ yếu đưới dạng các văn bản nên gây khó khăn cho sinh viên trong việc tiếp cận và tra cứu thông tin.
Chính vì thế khi có thắc mắc, sinh viên thường bỏ qua không đọc các văn bản hay thông báo mà sử dụng kênh hỗ trợ trực tiếp từ nhà trường, hiện tại là thông qua kênh email. Theo khảo sát của trường Đại học Xây dựng, khi một sinh viên cần hỏi vấn đề liên quan đến học tập và quy định tại trường: © 45% số sinh viên khi cần thông tin sẽ được đáp ứng thông qua việc hỏi bạn bè trong lớp và trong trường. Trong số đó 65% hỏi trực tiếp bạn bè, 35% còn lại sẽ hỏi thông qua trang fanpage, hội nhóm trên mạng xã hội facebook. e 15% sé sinh vién sé tu tìm hiểu các thông báo và quy định được đăng tải trên website chính thức, website đào tạo và các kênh truyền thông của Nhà trường.
e 10% sé sinh viên sẽ hỏi trực tiếp tại các phòng ban bằng cách lên trực tiếp nơi làm việc. e 30% số sinh viên còn lại sẽ hỏi các phòng ban bằng hình thức email. Một vẫn đề đặt ra là số lượng email các câu hỏi của sinh viên gửi tới các phòng ban rất nhiều, một ngảy có thể lên tới vài chục đến vài trăm câu hỏi. Vì vậy việc hỗ trợ sinh viên mà đặc biệt vào những dịp cao điểm như đăng ký môn học, thi hết học phần thường bị quá tải ở các phòng ban.
Đồng thời sinh viên phải chờ đợi việc xử lý các câu hỏi và câu trả lời nên nhiều khi thông tin phản hồi không được kịp thời, gây ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên. Trong quá trình học tập của sinh viên, các nội dung liên quan đến quy định sẽ được thông báo dưới dạng văn bản hoặc tài liệu được đăng tải trên website đảo tạo của nhà trường. Sinh viên quan tâm đến thông báo thường dựa trên tiêu đề thông báo, rồi sau đó mới đến nội dung thông báo, vì vậy nhiều thông báo bị sinh viên bỏ sót. Ngoài ra một số tài liệu quy định có nội dung đài nên sinh viên thường bỏ qua không đọc.
Vì vậy nếu chỉ xây dựng hệ thống dé quản lý văn bản, tài liệu dé sinh viên tra cứu cũng không thật sự hữu ích với sinh viên. Cần phải xây dựng công cụ để tương tác với sinh viên đưới dạng đặt câu hỏi — trả lời mới giải quyết được vấn đề này. Chính vì vậy, việc đưa ra một hệ thống trả lời câu hỏi tự động nhằm cung cấp cho sinh viên kênh hỗ trợ nhanh chóng, đồng thời làm giảm khối lượng công việc cho các phòng ban là vô cùng cần thiết. Một trong những kỹ thuật được sử dụng phổ biến hiện nay và mang lại hiệu quả cao là kỹ thuật truy xuất thông tin.
Đề tài luận văn của tôi sẽ tập trung vào tìm hiểu các kỹ thuật này, dựa trên dữ liệu được cung cấp từ nhà trường để xây dựng hệ thống trả lời tự động có kết quả trả lời tốt nhât. Nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương như sau: © Chương Ï tập trung vào giới thiệu về bài toán, đữ liệu đã có và kết quả đự kiến của đề tài. Trình bày khái về hệ thống hỏi đáp tự động, các loại hệ thống hỏi đáp, lịch sử phát triển, đưa ra kiến trúc chung của hệ thống hỏi đáp đồng thời là các vấn đề cần quan tâm khi thiết kế. ¢ Chương 2 tập trung vào lựa chọn mô hình và thuật toán để xây dựng mô hình hệ thống hỏi đáp.
Trình bày về việc tìm hiểu các phương pháp tiền xử lý dữ liệu bao gồm: tách từ tiếng Việt, các hướng tiếp cận dựa trên từ và dựa trên ký tự; biểu diễn văn bản; rút trích đặc trưng văn bản như loại bỏ các stop word, trích chọn đặc trưng văn bản thành các biểu diễn của các vector; tiép theo là đưa ra mô hình kiến trúc của hệ thống và kỹ thuật được sử dụng trong luận văn; e_ Chương 3 tập trung vào cải đặt, xây dựng bộ dữ liệu huấn luyện cho mô hình hỏi đáp từ dữ liệu thực tế hiện có của trường Đại học Xây dựng, sử dụng các kỹ thuật đánh giá mô hình hỏi đáp dé đánh giá hệ thống, tiếp theo là tiến hành thử nghiệm tại trường đề tiếp nhận những đánh giá từ người dùng cuối. TONG QUAN VE BAITOAN HOI DAP TU DONG 1. Bài toán trả lời tự động cho sinh viên trường Đại học Xây dựng Với thực trạng tại trường Đại học Xây dựng, hàng ngày sinh viên hỏi và thắc mắc rất nhiều van dé liên quan đến các chính sách, quy định và quy chế. Nhà trường phải bố trí bộ phận hỗ trợ sinh viên để giải đáp các thắc mắc và giúp đỡ sinh viên khi cần thiết, hiện tại bộ phận này sẽ tiếp nhận các câu hỏi của sinh viên qua kênh email sau đó trả lời các email đó.
Tuy nhiên vấn đề vào các đợt cao điểm như đăng ký môn học hay thi kết thúc học phần thì số lượng các câu hỏi tăng đột biến làm quá tải cho bộ phận hỗ trợ. Hơn nữa rất nhiều các câu hỏi thường lặp lại và được trả lời giống nhau, bộ phận hỗ trợ thường dựa vào các câu trả lời trước đó đã phản hồi để trả lời các câu hỏi tương tự. Giả sử như nếu sinh viên hỏi một trong các câu hỏi sau đây: 1. E thưa cô, chả hạn e trả hết môn mà tích luy chưa đủ 2.0 thì e có dc nhận dé làm đồ án tốt nghiệp không ạ 2.
Điều kiện để nhận ĐATN là gì a? 3. Em đã hoàn thiện hết các môn nhưng chưa đủ tiêu chuẩn ngoại ngữ thì có được nhận ĐATN không ạ? 4. Điểm trung bình tích lũy bao nhiêu thì được nhận đồ án tốt nghiệp ạ Thì đều được trả lời là: “Ezm tra ng xong tat cả các mon va dat CDR ngoại ngữ là đủ điều kiện nhận ĐATN. Điểm TBC tích lũy từ 2.0 trở lên là điều kiện xét TN, không áp dụng khi xét giao ĐATN”.
Như vậy là khi sinh viên hỏi một câu hỏi nào đó mà tương tự với các câu hỏi đã có thì có thê trả lời bằng câu trả lời có sẵn. Sau một thời gian trả lời qua email, bộ phận công tác sinh viên đã thu thập được một bộ các câu hỏi của sinh viên và câu trả lời do cơ quan chức năng của trường gửi lại gồm khoảng 3.500 câu hỏi, câu trả lời. Dựa trên tập câu hỏi, câu trả lời này, bài toán mà luận văn hướng tới giải quyết là xây dựng hệ thống cho phép tự động trả lời câu hỏi của sinh viên trong tương lai. Kết quả dự kiến của luận văn: Luận văn này sẽ dựa vào một tập dữ liệu có sẵn gồm các câu hỏi và câu trả lời để xây dựng công cụ trả lời tự động các câu hỏi giống với các câu hỏi đã có trong tập dữ liệu.
Khái quát hệ thống hỏi đáp tự động Nếu như trong hệ thống trích chọn thông tin khi người dùng muốn tìm kiếm thông tin họ cần, hệ thống trích chọn thông tin sẽ nhận truy vẫn đầu vào của người dùng dưới dạng các từ khóa và trả về các tài liệu liên quan có chứa từ khóa thì hệ thống hỏi đáp sẽ nhận đầu vào dưới dạng ngôn ngữ tự nhiên (thường là các câu hỏi), sau đó trả lại câu trả lời tương ứng với câu hỏi đưa vào. Có nhiều cách dé phân loại một hệ thống hỏi đáp, dựa vào mô hình của hệ hỏi đáp có thê phân loại thành các loại như sau [2]: e Hệ hỏi đáp truy xuất thông tin (IR) sử dung máy tìm kiếm để tìm ra các câu trả lời, áp dụng các bộ lọc và xếp hạng đề tìm ra trả lời gần nhất. e Hệ hỏi đáp dựa trên xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP ÓA) áp dụng kỹ thuật để hiểu ngôn ngữ tự nhiên và các phương pháp tiếp cận máy học dé trích rút câu trả lời. e Hé hoi dap dwa trén co sé tri thitc (Knowledge Base QA) tim kiếm câu trả lời từ các nguồn dữ liệu có cấu trúc (hay tri thức) thay vì văn bản phi cấu trúc.
se Hệ hỏi đáp lai là hệ hỏi đáp cho kết quả tốt bằng cách sử dụng nhiều loại nguồn đữ liệu nhất có thể, đây là sự kết hợp giữa IR, QA, NLP QA, Knowledge Base QA. Ví dụ điển hình cho loại này là hệ hỏi đáp IBM Watson [3]. Vào những năm 1960 đã ra đời các hệ hỏi đáp sớm nhất, phải kể đến là BASEBALL [4] va LUNAR [5]. Cac hé hoi dap nay bị giới hạn trong một lĩnh vực cụ thể nhưng nó cho chúng ta thấy tinh khả thi để đưa tạo ra các tác tử tự động có khả năng hiểu và giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên để trả lời các câu hỏi.
Từ bước ngoặt năm 1999 với sự đánh dấu của việc giới thiệu về QA tại hội nghị Text REtrieval Conference (TREC), các nghiên cứu về hệ hỏi đáp bắt đầu nở rộ về số lượng và ngày càng có nhiều hơn các công bố khoa học liên quan. Trong các giai đoạn tiếp theo, xu hướng phát triển và thống kê liên quan đến hệ thống hỏi đáp được tông hợp thông qua một cuộc khảo sát [ 1]. Từ 130 nghiên cứu phổ biến lấy từ tất cả 1842 nghiên cứu. 34,59% số các bài báo thực hiện hệ hỏi đáp dựa trên tri thức, 33,08% dựa trên NLP và số lượng 2 loại này cao hơn so với hệ hỏi đáp dựa trên IR, cuối cùng là chỉ có 3,76% xây dựng hệ hỏi đáp dựa trên hệ lai.
„ , NF vaso Hình 1.1: Số lượng các công bố về hệ hỏi đáp (OA) tính từ năm 2000 Reetriet-Domain Business Intelligence Open-Domain AQUAINT Open-Domain Wikipedia Restrict-Domain Religion Restrict-Domain Multiple Restrict-Domain E-Learning Open-Domain WWW Restrict -Domain Education Restrict -Domain B2C eCommerce Restrict-Domain Tourism (Movies/Cinema) Restrict -Domain Medicine Open-Domain Semantic Web(WikiPedia/DBPedial Hình 1.2: Cách tiếp cận hệ hỏi đáp Trong hình 5, cách tiếp cận hệ hỏi đáp trong miền mở dựa trên World Wide Web chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các nghiên cứu, theo sau đó là các lĩnh vực y tế.