Chương 1: Quê hương, gia đình và những hoạt động yêu nước đầu tiên của Hoàng Văn Thụ Chương 2: Hoàng Văn Thụ xây dựng cơ sở, lực lượng vũ trang cách mạng ở vùng Cao – Bắc – Lạng Chương 3: Hoàng Văn Thụ với sự chuyển hướng cách mạng, xây dựng An toàn khu và Mặt trận Việt Minh trong thời kỳ 1939-1945 Chương 4: Hoàng Văn Thụ với việc giáo dục tư tưởng cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 QUÊ HƢƠNG, GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG YÊU NƢỚC ĐẦU TIÊN CỦA HOÀNG VĂN THỤ 1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam, sau đó từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến Việt Nam từ một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa phong kiến. Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.
Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa. Về văn hóa, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán.
Những chính sách này đã làm cho nền văn hóa Việt xuất hiện những đặc điểm không thuần nhất, lai căng, trì trệ. Tuy nhiên bên cạnh đó, những tinh hoa của nền văn hoá phương Tây cũng đã có những tác động tích cực đến văn hoá nước ta. Ở Việt Nam đã xuất hiện các trào lưu văn hoá có sự giao thoa giữa Á - Âu, Đông - Tây. Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa. Một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề.
Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai cấp tư sản dân tộc bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.
Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu, một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
Trước những yêu cầu đó, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913.
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại. Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại.
Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam có bước chuyển biến mới, sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam – con đường cách mạng vô sản. Cũng vào thời gian này, ảnh hưởng của phong trào cách mạng dân chủ tư sản của Tôn Trung Sơn, của phong trào Ngũ Tứ ở Trung Quốc, đặc biệt ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã lan tỏa đến Việt Nam. Một số thanh niên yêu nước như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong.
xuất dương sang Quảng Châu, tiếp thu tư tưởng mới của thời đại, lập ra các tổ chức cách mạng theo xu hướng Mác xít. Từ năm 1925 khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời với những hoạt động của mình đã có ảnh hưởng lớn đến tư 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tưởng của tầng lớp thanh niên yêu nước trong đó có Hoàng Văn Thụ - một trong những vị lãnh tụ của phong trào cách mạng Việt Nam sau này. Quê hƣơng và gia đình Hoàng Văn Thụ Hoàng Văn Thụ, người dân tộc Tày, tên khai sinh là Hoàng Ngọc Thụ (có bí danh Lý, Giáo), sinh ngày 04-11-19091 (tức ngày 22-09 năm Kỷ Dậu) tại thôn Phạc Lạn, tổng Nhân Lý, châu Văn Uyên, nay là thôn Phạc Lạn, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Trong lịch sử hình thành xứ Lạng, từ khi thành lập nước Văn Lang, Lạng Sơn thuộc bộ Lục Hải.
Thời Bắc thuộc, Lạng Sơn thuộc quận Giao Chỉ, sau đó là quận Giao Châu. Sang đến thời Lý, Lạng Sơn có tên là lộ Lạng Giang. Đầu thời Trần, Lạng Sơn được gọi là lộ Lạng Châu, sau đổi là trấn Lạng Giang, đến năm 1397, trấn Lạng Giang được đổi thành trấn Lạng Sơn. Trải qua bao biến cố lịch sử có nhiều tên gọi khác nhau, như Lạng Sơn trấn, Lạng Sơn phủ, Lạng Sơn xứ.
Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đặt thành tỉnh Lạng Sơn. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946- 1954), Lạng Sơn trở thành một trong 6 tỉnh của căn cứ địa Việt Bắc. Năm 1956, Khu tự trị Việt Bắc được thành lập bao gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Năm 1975, Lạng Sơn sáp nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng.
Đến năm 1978, hai tỉnh tách ra thành Lạng Sơn và Cao Bằng. Hiện nay, tỉnh Lạng Sơn có diện tích là 8.187,25 km2, số dân là 851.200 người (theo số liệu thống kê năm 2013), mật độ 90 người/km2 và gồm 1 thành phố, 10 huyện, 14 thị trấn và 226 xã phường, là một trong những tỉnh có đường biên giới giáp Trung Quốc dài nhất [6, tr. 1 Trong một số sách đã xuất bản viết về tiểu sử của Hoàng Văn Thụ đều nói là sinh năm 1906, như sách “Những người cộng sản” của Đức Vượng và Trần Đình Nhơn, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000. Nhưng theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lạng Sơn (nhân kỷ niệm 85 ngày sinh Hoàng Văn Thụ) đã khẳng định là năm 1909 theo nguồn Gia phả họ Hoàng (bản chữ Hán), lưu tại gia đình Hoàng Văn Thụ, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lịch sử Việt Nam, Lạng Sơn luôn luôn được xác định là nơi có vị trí chiến lược quan trọng, là cánh cửa chính ở phía Bắc che chở cho trung tâm đồng bằng và trái tim cả nước. Lạng Sơn là chiếc cầu nối liền giữa vùng núi với vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ với biên giới Việt – Trung, là nơi có những yếu tố thuận lợi cho các cuộc chiến tranh du kích. Với vị trí địa lý vô cùng quan trọng, là tỉnh có cửa khẩu chính ngạch trong giao lưu đường bộ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, có hệ thống đường giao thông thuận tiện cho công thương hàng hóa (ngày nay Lạng Sơn chỉ cách thủ đô Hà Nội 154km theo đường Quốc lộ 1A). Từ xa xưa, Lạng Sơn đã luôn là thủ phủ của vùng biên ải phía Bắc nước ta.
Dọc theo tuyến biên giới trải dài 253 km, tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây thuộc vùng cực Nam của nước Trung Hoa rộng lớn, ngay từ thời Tần – Hán, các triều đại phương Bắc đã thường xuyên đem quân lấn chiếm các quốc gia phương Nam theo con đường Thiên lý qua Mục Nam quan (nay là Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị) của Lạng Sơn.