phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 03 chƣơng. Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc xây dựng và sử dụng hồ sơ học tập điện tử trong dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh Chương 2. Xây dựng và sử dụng HSHTĐT trong dạy học phần Quang hình học lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỒ SƠ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 1. Dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh 1. Khái niệm năng lực Trong những năm gần đây, khái niệm năng lực trong lĩnh vực giáo dục rất đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trong các nghiên cứu, NL đƣợc tiếp cận và diễn đạt theo rất nhiều cách khác nhau dựa trên các góc độ, quan điểm khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [18]. Còn theo sách Gốc và nghĩa từ Việt thông dụng thì NL là một từ Hán-Việt, trong đó “năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh; NL là sức mạnh làm nổi việc nào đó” [22]. Theo quan điểm của Triết học thì NL của con ngƣời là sản phầm của sự phát triển xã hội, năng lực không những do hoạt động của não bộ quyết định mà trƣớc hết là do trình độ phát triển của lịch sử mà loài ngƣời đã đạt đƣợc. Theo ý nghĩa đó thì NL của con ngƣời không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục tƣơng ứng với tổ chức đó.
Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác giáo dục sau trung học quốc gia Mĩ (NPEC), “NL là kết quả của các kinh nghiệm học tập được hợp nhất, trong đó các kĩ năng, khả năng và kiến thức tương tác với nhau để tạo thành những tổ hợp có giá trị, liên quan đến nhiệm vụ mà chúng được huy động” [40]. Ở các nƣớc, Chƣơng trình giáo dục cũng đƣa ra nhiều quan niệm NL khác nhau. Theo Chƣơng trình giáo dục Québec của Canada, “NL có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài” [41].
Chƣơng trình giáo dục của New Zealand cũng đƣa ra định nghĩa rất ngắn gọn: “NL là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [42]. Theo chƣơng trình giáo dục của Indonesia lại nêu lên: “NL là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một 7 người trở nên có NL với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản” [43]. Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể của nƣớc ta cũng nêu lên: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [2] Theo những gốc độ tiếp cận vấn đề khác nhau thì các nhà nghiên cứu khó mà trình bày thuật ngữ “năng lực” một cách chính xác đƣợc.
Tuy nhiên, có thể thấy những điểm chung trong các diễn đạt trên thì khái niệm NL có thể hiểu là: NL không chỉ là một loại thuộc tính cá nhân mang tính bẩm sinh mà còn bao gồm cả những đặc tính mới được hình thành và phát triển nhờ quá trình học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân, cho phép họ huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ của bản thân để thực hiện thành công một hoạt động nào đó trong một tình huống cụ thể. Khái niệm năng lực tự học Tự học là một hoạt động mang tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, nó có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp, theo hoặc không theo chƣơng trình và sách giáo khoa đã đƣợc ban hành. Hay nói cách khác môi trƣờng học tập chỉ đóng vai trò trợ giúp ngƣời học nhằm đạt đƣợc mục tiêu học tập đƣợc xác định trƣớc. Học tập chỉ có hiệu quả khi ngƣời học có nhu cầu học tập từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vƣợt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình chiếm lĩnh một lĩnh vực, hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của ngƣời học, vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn; rèn luyện và phát triển KN, làm cho ngƣời học thay đổi và ngày càng phát triển.
TH đƣợc xem là chìa khóa hƣớng tới một xã hội học tập suốt đời. Muốn vậy, bản thân mỗi ngƣời học phải có NLTH. Nguyễn Cảnh Toàn đƣa ra quan niệm về năng lực tự học trong “Học và dạy cách học” nhƣ sau: “NLTH đƣợc hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tƣơng ứng, làm cho ngƣời học có thể đáp ứng đƣợc những yêu cầu mà công việc đặt ra” Theo tác giả Lê Công Triêm, “NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” [25].
Năng lực tự học là khả năng mỗi cá nhân tự hoàn thiện thông qua rèn luyện, trang bị, thu thập, xử lí thông tin và vân dụng kiến thức đã học vào tình huống cụ thể để giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc sống bằng nhiều hình thức, phƣơng tiện. Định nghĩa về NLTH của Malcolm Shepherd Knowles [36] đƣợc sử dụng nhiều hơn cả trong các nghiên cứu về giáo dục học, đó là: “NLTH là một quá trình mà người 8 học có khả năng tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, giúp ích, hỗ trợ cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện”. Thông qua việc tìm hiểu các khái niệm về NLTH, trong luận văn này chúng tôi quan niệm NLTH nhƣ sau: NLTH là khả năng huy động tri thức, kĩ năng sẵn có, kinh nghiệm bản thân, động cơ, hứng thú để tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, rèn luyện kĩ năng mới và hoàn thiện phẩm chất của mỗi cá nhân. Vai trò của năng lực tự học Số lƣợng tri thức của nhân loại hiện nay đang đƣợc nhân lên với tốc độ nhanh chóng, còn thời gian của nhà trƣờng và tiết học thì có hạn.
Để giải quyết mâu thuẫn giữa khối lƣợng tri thức rất lớn với quỹ thời gian ít ỏi, hạn hẹp ở nhà trƣờng này thì tự học đóng vai trò vô cùng quan trọng. Theo Aditxterrec: "Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo đƣợc việc lĩnh hội tri thức của học sinh. Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lý, cái đó học sinh phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân". Tự học của học sinh trung học phổ thông còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lƣợng đào tạo tại các trƣờng phổ thông.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của ngƣời học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học. Vì vậy, tự học chính là con đƣờng phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sƣ phạm đúng đắn cần đƣợc phát huy ở các trƣờng phổ thông. Trong quá trình tự học ngƣời học luôn gặp phải những vấn đề mới và phải tự mình đi tìm giải pháp để giải quyết vấn đề, có thể nói tự học là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ của ngƣời học. Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của ngƣời học thì kết quả thu đƣợc cũng không thể cao dù điều kiện ngoại cảnh (Thầy giỏi, tài liệu tốt) rất thuận tiện.
Năng lực tự học giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng hiểu biết và tiếp thu tri thức mới của các bạn học sinh. Mỗi tiết học đều bị giới hạn về thời gian, giáo viên cũng không thể truyền tải hết toàn bộ nội dung đến cho các bạn, vì vậy, kỹ năng tự học sẽ giúp các bạn tìm hiểu sâu hơn các kiến thức, từ đó nhớ lâu hơn, và dễ dàng vận dụng các kiến thức ngay khi cần thiết. Tự học giúp học sinh có thể thích ứng tốt với các bậc học cao hơn. Quan trọng hơn là tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo.
Qua đó, nâng cao chất lƣợng đào tạo trong nhà trƣờng. Năng lực tự học ngoài có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân 9 cách cho học sinh. Thì việc tự học rèn luyện cho ngƣời học có thói quen vô cùng tốt, đó là suy nghĩ độc lập, tự mình giải quyết đƣợc những khó khăn gặp phải trong cuộc sống thực tiễn mà không phải phụ thuộc, dựa dẫm vào ai. Các thành tố của năng lực tự học Dựa trên các biểu hiện của NLTH đƣợc trình bày trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông Chƣơng trình tổng thể [2], chúng tôi xem NLTH có những NL thành tố: (1) Hình thành động cơ tự học, (2) Xây dựng kế hoạch TH, (3) Thực hiện kế hoạch tự học, (4) Tự đánh giá và điều chỉnh với các biểu hiện hành vi tƣơng ứng sau: Bảng 1.
Các thành tố của năng lực tự học Thành tố Tiêu chí (Chỉ số hành vi) 1. Hình thành động cơ tự học - Hứng thú TH - Ý thức tự học 2.