Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ PHÚ THỌ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin được coi là một trong những ngành khoa học phát triển với tốc độ nhanh nhất. Được như vậy vì đây là ngành khoa học phục vụ và mang lại hiệu quả rõ rệt cho hầu hết các ngành nghề khác nhau trong xã hội. Tuy vậy, tại Việt Nam, tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin có thể mang lại cho giáo dục chưa được khai thác một cách thỏa đáng.
Xét cho quá trình giáo dục, với sự đa dạng và phong phú của các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin hoàn toàn có thể trợ giúp cho quá trình dạy học bởi những các lý do dưới đây: Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ khiến máy tính trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình dạy học, cụ thể là: - Khả năng biểu diễn thông tin: Máy tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng văn bản, đồ thị, hình ảnh, âm thanh… Sự tích hợp này của máy tính cho phép mở rộng khả năng biểu diễn thông tin, nâng cao việc trực quan hóa tài liệu dạy học. - Khả năng giải quyết một khối thống nhất các quá trình thông tin, giao lưu và điều khiển trong dạy học: Dưới góc độ điều khiển học thì quá trình dạy học là một quá trình điều khiển hoạt động nhận thức của SV. Với một chương trình phù hợp, máy tính có thể điều khiển được hoạt động nhận thức của SV trong việc cung cấp thông tin, thu thập thông tin ngược, xử lý thông tin và đưa các giải pháp cần thiết giúp hoạt động nhận thức của học sinh đạt kết quả cao. - Tính lặp lại trong dạy học: Khác với giáo viên, máy tính có thể lưu trữ một khối lượng thông tin nào đó, cung cấp và lặp đó cho SV đến mức đạt được mục đích sư phạm cần thiết.
Trên cơ sở này, sự phát triển của từng cá thể SV trong quá trình dạy học trở thành hiện thực. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá thể hóa trong quá trình dạy học. Học viên: Trần Văn Út 12 Lớp 10BLLDHCTM Luận văn thạc sĩ - Khả năng mô hình hóa các đối tượng: Đây chính là khả năng lớn nhất của máy tính. Nó có thể mô hình hóa các đối tượng, xây dựng các phương án khác nhau, so sánh chúng từ đó tạo ra phương án tối ưu.
Thật vậy, có nhiều vấn đề, hiện tượng không thể truyền tải được bởi các mô hình thông thường, ví như các quá trình xảy ra trong lò phản ứng hạt nhân, hiện tượng xảy ra trong xy lanh của động cơ đốt trong, từ trường quay trong động cơ không đồng bộ ba pha, chuyển động của điện tử xung quanh hạt nhân… Trong khi đó máy tính hoàn toàn có thể mô phỏng chúng. - Khả năng lưu trữ và khai thác thông tin: Với ổ cứng dung lượng như hiện nay máy tính có thể lưu trữ một lượng lớn dữ liệu điều này cho phép thành lập các ngân hàng dữ liệu. Các máy tính còn có thể kết nối với nhau tạo thành các mạng cục bộ hay kết nối với mạng thông tin toàn cầu internet. Đó chính là những tiền đề giúp giáo viên và học sinh dễ dàng chia sẻ và khai thác thông tin cũng như xử lý chúng có hiệu quả Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể hỗ trợ cho nhiều hình thức dạy học khác nhau như dạy học giáp mặt (face to face); dạy học từ xa (distance learning); phòng đào tạo trực tuyến (online training lab); Học dựa trên công nghệ web (web based training) ; Học điện tử (e-learning)… đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của các thành phần khác nhau trong xã hội.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học dẫn đến việc giao cho máy tính thực hiện một số chức năng của người thầy giáo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học. Nhờ đó, có thể xây dựng những chương trình dạy học mà ở đó máy thay thế một số công việc của người giáo viên… Cách dạy này đã thể hiện nhiều ưu điểm về mặt sư phạm như khuyến khích sự làm việc độc lập của HSSV, đảm bảo mối liên hệ ngược và cá biệt hóa quá trình học tập. Công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT&TT), đã mang lại nhiều ứng dụng trong đời sống xã hội như: trao đổi thông tin qua mạng Internet: e-mail; chính phủ điện tử: e-government; giáo dục điện tử: e-education; dạy học qua mạng: e- learning; thư viện điện tử: e-libraly; văn hoá số hay văn hoá điện tử: e-culture. Những thành tựu của CNTT&TT đã tạo ra một cuộc cách mạng trong hầu hết các Học viên: Trần Văn Út 13 Lớp 10BLLDHCTM Luận văn thạc sĩ lĩnh vực xã hội, kinh tế.
Sự thay đổi này không chỉ thấy trong các nền sản xuất công nghiệp, điện tử, viễn thông mà ngay trong các lĩnh vực như: tài chính, ngân hàng, thương mại, quản lý nhà nước, giáo dục. CNTT&TT không chỉ thay đổi căn bản phương thức điều hành và quản lý giáo dục (Education Management Technology) [49, 57, 65] mà còn tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học. CNTT-TT đã trở thành một bộ phận giáo dục về khoa học, công nghệ cho mọi người. Tại Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học thế kỷ 21 "Tầm nhìn và hành động" tại Paris diễn ra từ ngày 5 đến 9 tháng 10 năm 1998 do UNESCO tổ chức đã đưa ra ba mô hình giáo dục: -Vai trò trung tâm: GV Mô hình truyền thống : -Vai trò người học: Thụ động -Công nghệ sử dụng: Bảng, tivi, radio… -Vai trò trung tâm: Người học Mô hình thông tin: -Vai trò người học: Chủ động - Công nghệ sử dụng: MTĐT -Vai trò trung tâm: Nhóm học sinh Mô hình tri thức: -Vai trò người học: Thích nghi cao độ -Công nghệ sử dụng: MTĐT và mạng MTĐT đã đóng vai trò quyết định trong việc chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình thông tin và sự xuất hiện của mạng máy tính là tác nhân chính để chuyển từ mô hình thông tin sang mô hình tri thức.
Công nghệ đa phương tiện cho phép tích hợp nhiều dạng dữ liệu như văn bản, biểu đồ, đồ thị, âm thanh, hình ảnh, vi deo. vào bài giảng nhằm giúp SV có điều kiện tiếp thu bài học qua nhiều kênh thông tin. Vai trò của CNTT&TT trong việc tạo ra một môi trường dạy học mới cũng đã được Nguyễn Bá Kim [49], Quách Học viên: Trần Văn Út 14 Lớp 10BLLDHCTM Luận văn thạc sĩ Tuấn Ngọc [51, 52], Đào Thái Lai [57], Nguyễn Huy Tú [9] và Sheldon Shaefer [1. khẳng định - CNTT-TT góp phần đổi mới việc dạy học - CNTT-TT là công cụ đắc lực góp phần đổi mới việc chuẩn bị và lên lớp của người thầy - Cung cấp cho GV nhiều phương tiện dạy học mới như MTĐT, máy chiếu đa năng, bảng điện tử.
CNTT-TT còn tạo ra môi trường học tập mới, học trong môi trường tương tác đa phương tiện và tạo ra nhiều cơ hội tìm hiểu tri thức cho người học, có thể học mọi nơi, mọi lúc. CNTT-TT hay công nghệ đa phương tiện có ưu điểm là cho phép tích hợp nhiều dạng thông tin và dữ liệu như văn bản, âm thanh, hình ảnh, vi deo, đồ họa… vào bài giảng nhằm kích thích hứng thú trong học tập của người học. Ngoài ra CNTT&TT còn có khả năng thay thế công việc của người thầy giáo như: góp phần tổ chức, điều khiển quá trình dạy học, hợp lý hóa công việc của thầy và trò, chấm bài, kiểm tra, đánh giá, đóng vai trò là GV còn SV làm chức năng người dạy máy tính thông qua đó lĩnh hội được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… Các chuyên gia Nguyễn Bá Kim [49] , Quách Tuấn Ngọc [51,52], Đào Thái Lai [57], Nguyễn Huy Tú [91], Haji Razalibin Ahmad [l08], Michel1e Selinger [116] cũng đã khẳng định: CNTT&TT đã tạo ra một môi trường tương tác để người học hoạt động và thích nghi trong môi trường đó và như vậy CNTT&TT tạo điều kiện cho người học độc lập với mức độ cao và hỗ trợ cho người học vươn lên trong quá trình học tập. * CNTT&TT tạo ra các mô hình dạy học mới: 1.
Dạy học có sự trợ giúp của máy tính (Computer Based Training - CBT). Dạy học trên nền website (Web Based Training -WBT). Dạy học qua mạng (Online Learning Training- OLT). Dạy học từ xa: GV và sinh viên không ở cùng một vị trí, không cùng thời gian (Distance Learning).
Sử dụng CNTT&TT tạo ra một môi trường ảo để dạy học (E-leaming). * Việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học tập trung vào các lĩnh vực sau: Học viên: Trần Văn Út 15 Lớp 10BLLDHCTM Luận văn thạc sĩ - Sử dụng các thiết bị (phần cứng) với vai trò là phương tiện, công cụ dạy học như: MTĐT (Pcs-personal Computers); Thiết bị hiển thị thông tin (display): Large colour monitors, Data projectors, Interactive whiteboards, OHP dispiays, TV interfaces.; Các thiết bị ngoại vi ghép nối với MTĐT: máy ảnh kỹ thuật số, máy quét, graphic calcu/ators. - Sử dụng các ngôn ngữ lập trình như Pascal, Logo.; Các phần mềm thông dụng: Excel, Winword, Frontpage; Các phần mềm đồ hoạ (Graph Plotting Software- GPS); Các phần mềm số học, hệ thống đại số máy tính (Computer Algebra System- CAS); Các phần mềm hình học động (Dynamic Geometry Software-DGS); Các phần mềm trình diễn (Data Handling Software-DHS). - Khai thác thông tin trên các CD-ROM và Intemet.
Như vậy, việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được các kết quả chính sau: 1. Nghiên cứu và khai thác các phần mềm PMGD trên thế giới. Triển khai thiết kế và xây dựng các PMDH cho các nội dung cụ thể 3. Tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của MTĐT [54, 55, 56,76, 78, 84].
Thử nghiệm khai thác mạng, Internet để dạy học từ xa [5 1, 52, 69, 72]. Tuy nhiên, đứng trước những tiềm năng to lớn của CNTT&TT đối với GD&ĐT thì các thành tựu trên còn rất khiêm tốn. Ở đa số các trường, việc triển khai, ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập còn nhỏ lẻ. Việc đổi mới phương pháp dạy học chỉ dành cho các đợt thao giảng, hội giảng.
Đội ngũ giáo viên sử dụng thành thạo và kết hợp các phần mềm để xây dựng giáo án điện tử tích cực là không nhiều, hoặc có thì chỉ mang tính chất tự làm báo cáo, minh họa cho tiết giảng của riêng mình. * Đối với bộ môn Cơ ứng dụng: đây là môn học khó của chuyên ngành cơ khí của các trường kỹ thuật.