Tổng quan nghiên cứu
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những trụ cột chiến lược quyết định tính bền vững của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Tại địa bàn xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội – một vùng đất giàu truyền thống lịch sử với tổng diện tích đất tự nhiên 691,07 ha (trong đó đất nông nghiệp chiếm 485,52 ha) cùng quy mô dân số 6.715 nhân khẩu phân bổ trên 1.565 hộ gia đình thuộc 3 thôn Hà Xá, Trinh Tiết và Thượng Tiết – công tác phát triển văn hóa đóng vai trò cốt lõi trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn bắt nguồn từ thực trạng biến đổi sâu sắc của đời sống kinh tế - xã hội khi địa phương bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo ra những tác động tiêu cực, làm gia tăng nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống ở một bộ phận thanh niên và tạo nên sự lúng túng trong quản lý văn hóa cơ sở.
Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát và đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng quản lý nhà nước và hoạt động tự quản của cộng đồng từ năm 2011 đến năm 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cho giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa lý xã Đại Hưng trong mốc thời gian từ năm 2011 – dấu mốc xã bắt đầu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp góp phần bảo tồn hệ thống 27 công trình di tích lịch sử - văn hóa (với 6 di tích đã được xếp hạng), nâng cao chất lượng phong trào xây dựng Gia đình văn hóa đạt trên 85%, đồng thời tạo động lực chính trị - xã hội vững chắc thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đặc biệt là tư tưởng xây dựng Đời sống mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng từ năm 1946 và tác phẩm xuất bản năm 1947 với phương châm cốt lõi xem con người là gốc của làng nước. Nghiên cứu vận dụng sâu sắc đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam qua Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Mô hình nghiên cứu kết hợp giữa mô hình quản lý hành chính nhà nước theo ngành dọc từ Trung ương (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Văn hóa Cơ sở) đến cấp xã (Ban Văn hóa Xã hội xã Đại Hưng) và mô hình tự quản của cộng đồng dân cư thông qua hệ thống hương ước, quy ước làng văn hóa. Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Văn hóa, Đời sống văn hóa, Đời sống văn hóa cơ sở, Thiết chế văn hóa và Nếp sống văn minh. Tác giả kế thừa có chọn lọc các luận điểm khoa học của GS. Hoàng Vinh về hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, công trình của GS. Đinh Xuân Dũng về văn hóa là sức mạnh nội sinh của dân tộc, cùng các nghiên cứu chuyên sâu của PGS.TS Nguyễn Hữu Thức về cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Các khái niệm này được liên kết chặt chẽ với hệ thống văn bản pháp quy như Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg về nếp sống văn minh, Quyết định số 1610/QĐ-TTg giai đoạn 2011-2015, Thông tư số 12/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 và Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 08/3/2011 quy định tiêu chí nhà văn hóa - thể thao cơ sở.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điền dã, khảo sát thực địa với hơn 10 đợt tiếp cận địa bàn trực tiếp tại 3 thôn của xã Đại Hưng. Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 150 phiếu hỏi được phân bổ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện, bao quát các nhóm đối tượng từ hộ gia đình thuần nông, hộ kinh doanh dịch vụ đến cán bộ quản lý văn hóa, lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu và ghi âm trực tiếp các cán bộ chủ chốt nhằm thu thập thông tin định tính sâu sắc.
Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp (báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, nghị quyết của Đảng bộ xã Đại Hưng) với phương pháp điều tra định lượng và tiếp cận liên ngành (sử học, dân tộc học, văn hóa dân gian) là nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều. Cách tiếp cận này cho phép đối chiếu chính xác giữa các quy định trong văn bản chỉ đạo với diễn biến thực tế tại cơ sở. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong khóa học từ năm 2015 đến năm 2017, tập trung phân tích chuỗi số liệu từ năm 2011 đến năm 2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, công tác thể chế hóa và triển khai các văn bản quản lý được thực hiện đồng bộ. Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa xã Đại Hưng được kiện toàn với 22 thành viên, ban hành quy chế phối hợp cụ thể. Toàn bộ 3 thôn (Hà Xá, Trinh Tiết, Thượng Tiết) đều đã xây dựng và bổ sung hương ước, quy ước làng văn hóa bám sát Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT, giúp duy trì kỷ cương và bài trừ nhiều tập tục lạc hậu.
Thứ hai, phong trào xây dựng Gia đình văn hóa và Làng văn hóa đạt kết quả tích cực, tạo nền tảng gắn kết 38 dòng họ và 1.565 hộ dân. Tỷ lệ đăng ký và bình xét đạt danh hiệu Gia đình văn hóa hàng năm duy trì ở mức cao trên 85%. Sự đồng thuận của cộng đồng dân cư gồm 98,7% người Kinh đã củng cố tình làng nghĩa xóm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và giữ vững an ninh trật tự.
Thứ ba, sự nghiệp giáo dục và phát triển văn hóa - xã hội ghi nhận nhiều chỉ số vượt trội: 100% trẻ em dưới 5 tuổi được hưởng chương trình giáo dục mầm non, 89% trẻ trong độ tuổi đến trường mẫu giáo, 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học, tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt từ 90% đến 99%, và 55% giáo viên trung học cơ sở có trình độ đào tạo trên chuẩn. Chỉ tiêu tuyển quân nghĩa vụ quân sự hàng năm luôn đạt xấp xỉ 100%.
Thứ tư, hệ thống thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư với 3 nhà văn hóa thôn và mạng lưới 27 công trình di tích lịch sử (trong đó có 6 di tích xếp hạng cấp thành phố, 3 ngôi đình, 3 ngôi chùa, 3 ngôi đền). Tuy nhiên, hiệu suất khai thác các nhà văn hóa thôn mới chỉ đạt khoảng 60% công năng do thiếu hụt trang thiết bị chuyên dụng và các hoạt động câu lạc bộ chưa thực sự phong phú.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những thành tựu trên xuất phát từ sự chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức thông qua Chỉ thị số 21-CT/HU và Kế hoạch số 756/KH-UBND về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, cùng sự đồng lòng hưởng ứng của nhân dân địa phương. Ngược lại, nguyên nhân hạn chế bắt nguồn từ kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất văn hóa còn hạn hẹp, cán bộ văn hóa - xã hội cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, và sự du nhập của các dịch vụ giải trí thương mại (karaoke, internet, game) chưa được kiểm soát chặt chẽ.
So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Vinh (2016) tại thị xã Đông Triều và nghiên cứu của Đặng Xuân Minh (2011) tại phường Xuân La, thực trạng tại xã Đại Hưng phản ánh tính quy luật chung của các vùng nông thôn Bắc Bộ: phong trào phát triển mạnh về bề rộng nhưng chiều sâu chất lượng còn đối mặt nhiều thách thức. Các dữ liệu khảo sát trong luận văn được mô hình hóa và trình bày trực quan qua bảng tổng hợp cơ cấu dân số - dòng họ, biểu đồ cột so sánh tỷ lệ gia đình văn hóa qua các năm 2011-2017, kết hợp bảng ma trận phân tích mức độ hài lòng của 150 người dân đối với hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở, mang lại cơ sở khoa học thuyết phục cho việc đánh giá.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, nâng cao nhận thức và đổi mới phương thức tuyên truyền: Ủy ban nhân dân và Ban Tuyên giáo Đảng ủy xã Đại Hưng cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề hàng quý, phấn đấu đạt mục tiêu 100% cán bộ, đảng viên và trên 90% người dân nắm vững các tiêu chí của phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với tiêu chí xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2018-2020.
Thứ hai, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Mỹ Đức phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Đại Hưng bố trí nguồn ngân sách và huy động xã hội hóa để nâng cấp trang thiết bị cho 3 nhà văn hóa thôn tại Hà Xá, Trinh Tiết, Thượng Tiết; lập đề án trùng tu 6 di tích đã xếp hạng; nâng tỷ lệ sử dụng công năng nhà văn hóa từ 60% lên trên 85% vào năm 2022.
Thứ ba, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và siết chặt kỷ cương: Ủy ban nhân dân xã và Công an xã thiết lập cơ chế kiểm tra định kỳ hàng tháng đối với 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa nhạy cảm (karaoke, trò chơi điện tử), đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, tang theo tinh thần Chỉ thị số 11-CT/TU của Thành ủy Hà Nội và Chỉ thị 21-CT/HU của Huyện ủy Mỹ Đức.
Thứ tư, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng và 38 dòng họ: Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã cùng Ban công tác Mặt trận 3 thôn tiến hành rà soát, sửa đổi hương ước thôn làng hàng năm; nhân rộng mô hình dòng họ hiếu học, gia đình văn hóa tiêu biểu; phấn đấu nâng tỷ lệ gia đình văn hóa đạt từ 90% trở lên và vận động nguồn lực đóng góp tự nguyện từ cộng đồng đạt từ 20% đến 30% tổng kinh phí tổ chức các lễ hội truyền thống đến năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện và công chức văn hóa - xã hội cấp xã: Tài liệu cung cấp quy trình nghiệp vụ chuẩn hóa, hệ thống văn bản chỉ đạo và phương pháp điều hành Ban Chỉ đạo phong trào văn hóa cơ sở gồm 22 thành viên. Điển hình là use case ứng dụng bộ tiêu chí bình xét Gia đình văn hóa, Làng văn hóa và quản lý 3 nhà văn hóa thôn.
Nhóm lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương (Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã): Giúp nắm vững cơ chế lồng ghép tiêu chuẩn xây dựng đời sống văn hóa với chương trình xây dựng nông thôn mới, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội và định hướng phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
Nhóm học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học: Nguồn tư liệu thực chứng phong phú với 150 phiếu khảo sát, phương pháp tiếp cận liên ngành và bức tranh văn hóa làng xã vùng đồng bằng sông Hồng, phục vụ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu so sánh về chuyển dịch văn hóa nông thôn.
Nhóm cán bộ Mặt trận Tổ quốc, trưởng thôn và đại diện 38 dòng họ: Cung cấp cẩm nang thực tiễn về phương pháp vận động quần chúng, cách thức soạn thảo và thực thi hương ước thôn làng theo Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT, giúp nâng cao hiệu quả hòa giải cơ sở và bảo tồn các giá trị thuần phong mỹ tục.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn tiếp cận vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại xã Đại Hưng dựa trên những cơ sở pháp lý trọng tâm nào?
Luận văn dựa trên Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998, Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014, Quyết định số 1610/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 12/TT-BVHTTDL và Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL. Ở cấp địa phương, công trình bám sát Chỉ thị số 11-CT/TU của Thành ủy Hà Nội và Chỉ thị số 21-CT/HU của Huyện ủy Mỹ Đức về thực hiện nếp sống văn minh.
Đặc thù điều kiện tự nhiên và nhân văn của xã Đại Hưng tác động như thế nào đến công tác phát triển văn hóa?
Xã có diện tích 691,07 ha, dân tộc Kinh chiếm 98,7% dân số, tạo sự đồng nhất cao về phong tục tập quán. Địa phương lưu giữ 27 di tích lịch sử - văn hóa với 6 di tích xếp hạng và 38 dòng họ gắn kết chặt chẽ. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng nếp sống văn hóa nhưng cũng đòi hỏi giải pháp bảo tồn nghiêm ngặt trước sức ép đô thị hóa.
Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu khảo sát thực địa của đề tài được triển khai ra sao?
Tác giả thực hiện hơn 10 đợt điền dã, phát 150 phiếu khảo sát ngẫu nhiên phân tầng tại 3 thôn (Hà Xá, Trinh Tiết, Thượng Tiết) đại diện cho 1.565 hộ gia đình. Nghiên cứu kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp 10 cán bộ chủ chốt của xã và các trưởng thôn, đối chiếu số liệu báo cáo giai đoạn 2011-2017 nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối.
Những rào cản lớn nhất trong công tác xây dựng đời sống văn hóa tại xã Đại Hưng giai đoạn 2011-2017 là gì?
Rào cản chính gồm: hiệu suất sử dụng 3 nhà văn hóa thôn mới đạt khoảng 60% do thiếu trang thiết bị; nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang đôi lúc còn lãng phí; các tệ nạn xã hội và mặt trái kinh tế thị trường tác động tiêu cực đến thanh niên; nguồn ngân sách văn hóa cơ sở còn hạn chế.
Giải pháp đột phá nào được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa tại xã Đại Hưng?
Giải pháp then chốt là đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, huy động từ 20% đến 30% kinh phí từ cộng đồng và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn để nâng cấp cơ sở vật chất. Song song đó, cần đa dạng hóa các câu lạc bộ thể thao, nghệ thuật quần chúng và nâng cao năng lực cho 22 thành viên Ban chỉ đạo xã.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước kết hợp tự quản cộng đồng trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại nông thôn.
- Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng tại xã Đại Hưng giai đoạn 2011-2017 với quy mô 6.715 nhân khẩu, 1.565 hộ gia đình và 27 công trình di tích.
- Nhận diện chính xác các nút thắt về công năng thiết chế văn hóa (đạt khoảng 60%) và thách thức quản lý nếp sống văn minh ở 3 thôn làng.
- Xác lập 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với mục tiêu đạt trên 90% Gia đình văn hóa và bảo tồn 6 di tích đã xếp hạng.
- Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác làm tài liệu tham khảo cho Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Mỹ Đức và Ủy ban nhân dân xã Đại Hưng.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Hà Thị Thu Thùy là một công trình nghiên cứu công phu, có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao đối với lĩnh vực Quản lý văn hóa. Các cấp quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác, vận dụng mô hình giải pháp của luận văn để nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cơ sở tại địa phương mình ngay hôm nay.