phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương. hư ng1: Đ ng ộ huy n hi m H th hi n ng tá y ng Đ ng t năm 2000 n năm 2005 hư ng 2: Đ ng ộ huy n hi m H ẩy mạnh ng tá y ng Đ ng t năm 2006 n năm 2010 hư ng 3: Nh n ét và inh nghi m. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN CHI M H A THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Thực trạng xây dựng Đảng ở Chiêm Hóa trƣớc năm 2000 và ch trƣơng xây dựng Đảng c a Đảng ộ huy n Chiêm Hóa t năm 2000 ến năm 2005 1.
Thực trạng xây dựng Đảng ở Chiêm Hóa trƣớc năm 2000 Trong lịch sử dân tộc, nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hóa đã nhiều lần cùng nhân dân cả nước cầm vũ khí đứng lên chống giặc ngoại xâm và lập nên những chiến công v vang. Tiếp nối truyền thống yêu nước, đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược của các thế hệ đi trước, khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta năm 8 8 một lần nữa nhân dân Chiêm Hóa cùng với nhân dân cả nước tích cực tham gia chống thực dân Pháp, giành độc lập cho dân tộc. Năm 88 , Pháp tiến đánh Tuyên Quang. Dựa vào bộ máy thống trị hành chính quân sự, thực dân Pháp cùng bọn thổ ty, phong kiến áp bức, bóc lột nhân dân địa phương một cách dã man, tàn bạo.
Dưới chính sách cai trị, bóc lột của thực dân, phong kiến đã tác động lớn đến sự phân hóa giai cấp trong xã hội huyện Chiêm Hóa. Lúc này, lực lượng công nhân còn rất mỏng, chưa hình thành giai cấp; lực lượng trí thức, công chức, tiểu thương, tiểu tư sản cũng rất nhỏ bé, đại đa số người địa phương là nông dân và lao động thủ công [3, 14]. Không chịu khất phục trước bạo lực, cường quyền của bọn thực dân và phong kiến tay sai, nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hóa đã nhiều lần đứng lên đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, chống đi phu, đi lính. Tháng 3 9 3, toàn bộ 3 công nhân ở Nà Đồn Đài Thị - Chiêm Hóa đã bãi công đòi trả 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Có thể nói vào những năm 9 - 93 trở đi, tình hình chung của Chiêm Hóa đã âm thầm chứa đựng ngọn lửa phong trào yêu nước và là mảnh đất tốt đang chờ đón sự gieo mầm của cách mạng. Tháng 6 937, đồng chí Hoàng Văn Lịch tức Hai Cao, Hồng Việt - người đảng viên cộng sản đầu tiên t chi bộ Hải ngoại ở Trung Quốc, đã bí mật về Đầm Hồng xã Ngọc Hội trực tiếp truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin cho công nhân mỏ than thị xã Tuyên Quang [3, 17]. Sự ra đời của Chi bộ Mỏ than 3 9 và Ban cán sự Đảng tỉnh 9 , đặc biệt là những hoạt động tích cực của công nhân đoàn thuyền sắt đã có tác động quan trọng ban đầu đối với quá trình ra đời và phát triển của phong trào cách mạng tại Chiêm Hóa. Đầu năm 9 , hòa chung với không khí sôi sục trong cả nước, công việc chuẩn bị khởi nghĩa ở Chiêm Hóa cũng khẩn trương hơn, cấp bách hơn.
Hưởng ứng lới kêu gọi của Việt Minh, nhân dân Chiêm Hóa đã đứng lên đấu tranh giành chính quyền và nhanh chóng giành được thắng lợi 6 9. Thắng lợi này đã chứng minh sâu sắc chủ trương của Đảng phát động quần chúng tiến hành khởi nghĩa t ng phần, giành chính quyền bộ phận là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Chính t các vùng giải phóng nơi r ng núi hiểm trở này, khu căn cứ địa cách mạng được mở rộng, làm cở sở vững chắc cho cách mạng tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Sau cách mạng tháng Tám năm 9 thành công, trước âm mưu và hành động trắng trợn xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, cuối năm 9 6 cả nước lại bắt tay vào cuộc kháng chiến trường k giành độc lập dân tộc.
Năm 9 7, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành, các cơ quan Trung ương, lần lượt di chuyển lên Việt Bắc. Tuyên Quang được chọn là ATK căn cứ địa của cách mạng cả nước. Tại Chiêm Hóa 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có các cơ quan: Ban Kinh tế - Tài chính Trung ương, Bệnh viện Thực hành, Ban chế tạo dụng cụ y dược, Xưởng quân giới J. đến đặt trụ sở làm việc.
Tình hình mới lúc này đặt ra cho chính quyền và nhân dân trong huyện những nhiệm vụ chính trị vô cùng nặng nề nhưng cũng hết sức v vang đó là làm tròn sứ mệnh của huyện hậu phương ATK đối với sự nghiệp cách mạng cả nước. Điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sứ mệnh này thực hiện thành công đó là phải xây dựng và phát triển cơ sở Đảng các cấp. Đáp ứng yêu cầu cấp thiết của phong trào cách mạng, ngày 9 7, đồng chí Nguyễn Văn Hiền - Tỉnh ủy viên, được Tỉnh ủy Tuyên Quang cử lên công bố thành lập Chi bộ Công sở huyện Chiêm Hóa. Đây là chi bộ Đảng đầu tiên của huyện, gồm ba đảng viên do nữ đồng chí Phan Thị Kim tên thật là Dương Thị n làm Bí thư [3, 20].
Chi bộ Đảng huyện Chiêm Hóa ra đời là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu sự phát triển của Đảng ta nói chung và Đảng bộ huyện Chiêm Hóa nói riêng. Kể t đây phong trào cách mạng huyện nhà đã có bước chuyển về chất, m i bước đi lên của phong trào đều có sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Đảng. Tiếp đó, Ban Huyện ủy lâm thời huyện được thành lập. Các cơ sở Đảng nhanh chóng được phát triển.
Tháng 9 9 7, toàn huyện đã có chi bộ với 9 đảng viên, đến tháng 9 7 đã có 8 chi bộ [3, 20]. Nhận thức đúng đắn công tác xây dựng Đảng là công tác hàng đầu, tiên quyết toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, được sự quan tâm của Tỉnh ủy cùng với sự n lực tự thân, Đảng bộ huyện nhanh chóng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng. Năm 9 8, Đảng bộ có chi bộ, đảng viên; năm 9 9 có đồng chí. Đến năm 9 , toàn huyện đã có 6 3 đảng viên [3, 20].
Tổ chức Đảng t huyện đến xã, qua những bước kiện toàn quan trọng đã dần lớn mạnh về mặt tổ chức. Ngày 3 9 9, BCH Huyện ủy chính thức được bầu ra gồm đồng chí, do đồng chí Lê Tùng làm Bí thư [3, 20]. Coi 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng công tác xây dựng Đảng cơ sở, đến năm 9 , huyện đã có chi bộ ở các xã 7 xã có chi bộ, chi bộ ghép. T thực tế của địa bàn miền núi có nhiều dân tộc, bên cạnh việc chú ý phát triển số lượng, củng cố tổ chức, huyện còn quan tâm tăng cường thành phần giai cấp, thành phần dân tộc, thành phần các giới trong Đảng.
Trong tổng số đảng viên 9 8 có 7 công nhân, 3 trung nông, bần nông, 3 tiểu tư sản, đồng chí là dân tộc Kinh, Tày, Dao, trong đó số nữ đảng viên là đồng chí. Năm 9 , đảng viên của Đảng bộ bao gồm: bần nông 3 , trung nông 3 , tiểu tư sản 3, công nhân. Về dân tộc: Tày , Dao 8, Nùng , Kinh 83. Thành phần các giới: phụ nữ 68, du kích 3, công giáo 3, Hoa kiều [3, 21].
Nhằm tăng cường sức mạnh lãnh đạo của các chi bộ, Ban chi ủy cũng được chú trọng kiện toàn. Năm 9 8, huyện chỉ có 3 chi ủy viên, đến năm 9 đã có 6 đồng chí [3, 21]. Đi đôi với việc phát triển số lượng đảng viên cho kịp với nhu cầu của tình hình, huyện đã đẩy mạnh phong trào học tập văn hóa, nghiệp vụ và lí luận để nâng cao chất lượng đảng viên. Đến năm 9 , toàn huyện có 7 chi bộ với 63 đảng viên [3, 25].
Năm 9 8, các chi bộ được củng cố, thành lập được 6 Ban chi ủy. Sáu tháng đầu năm 96 , toàn huyện đã có 33 chi bộ với 6 7 đảng viên, đến cuối năm số đảng viên phát triển tới 689 đồng chí [3, 27]. Song song với việc phát triển về số lượng, Đảng bộ còn chú trọng đến nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đặc biệt là về trình độ giác ngộ chính trị và phương pháp vận động, tổ chức quần chúng. Bên cạnh đó, nhằm làm cho Đảng thực sự trong sạch, đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương, Đảng bộ huyện đã kiên quyết xử lý những đảng viên không còn đủ tư cách, khai tr đảng viên thoái hóa, biến chất.
Đến cuối năm 96 số chi bộ yếu kém còn không đáng kể [3, 27]. Đội ngũ đảng viên của huyện những năm trước tỷ lệ chung so với dân số rất ít không quá 3. Tại Đại hội Đảng bộ lần thứ IV năm 96 , toàn 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đảng bộ mới có 789 đảng viên, đến Đại hội Đảng bộ lần thứ VI, tỷ lệ chung so với dân số chiếm 3,6 .3 8 đảng viên, với 79 chi bộ, đảng bộ cơ sở [3, 30]. Đến hết tháng 96 , tỷ lệ đảng viên đạt , 9 ; riêng trong bốn năm t 96 đến 96 đã phát triển thêm được 7 đảng viên [3, 32].
Thành phần dân tộc, giai cấp, giới tính trong Đảng được chú ý, nhất là thành phần dân tộc và lực lượng tr. Toàn Đảng bộ có 89 người dân tộc Tày chiếm 67, , 33 người dân tộc Kinh chiếm , 8 , đảng viên người Dao đeo tiền chiếm 9, , người dân tộc Nùng chiếm , , Đại Bản chiếm , , người dân tộc Hoa chiếm , , người dân tộc Mường chiếm , 7 , Mèo , , Quần Trắng , 7 , lực lượng thanh niên chiếm tỷ lệ 67,94% [3, 34]. Đi đôi với việc chú trọng phát triển các thành phần dân tộc, số lượng đội ngũ đảng viên, Đảng bộ huyện còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề tư tưởng và tổ chức. Thông qua các cuôc vận động chính trị lớn của Đảng, Đảng bộ đã tiến hành vận động xây dựng chi bộ và đảng bộ “bốn tốt”.
Kết quả là các chi bộ khá ngày càng tăng, số lượng đảng viên kém ngày càng giảm: t năm 963 xuống 7 năm 96 ; cuối năm 96 toàn Đảng bộ có 6 chi bộ và 7 tổ Đảng được công nhận “bốn tốt” [3, 35].