Chương 1 CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì và thực trạng công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện trước năm 2001 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Vì * Điều kiện tự nhiên Ba Vì là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội. Trước tháng 7 năm 1968 là ba huyện Quảng Oai, Bất Bạt, Tùng Thiện thuộc tỉnh Sơn Tây hợp nhất lại thành huyện Ba Vì.
Nằm cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây, bên hữu ngạn sông Đà, sông Hồng. Địa giới về phía Đông giáp thị xã Sơn Tây và huyện Phúc Thọ; phía Tây có sông Đà làm ranh giới tự nhiên với huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp với huyện Thạch Thất, Tây – Nam có núi Ba Vì là ranh giới với tỉnh Hòa Bình và phía Bắc có sông Hồng làm phân giới với thành phố Việt Trì và huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc. Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm ở 21 01’ vĩ độ bắc và 105 48’ kinh độ đông, với tổng diện tích đất đai tự nhiên 441. Địa hình huyện Ba Vì có thế cao dần từ Đông - Bắc đến Tây - Nam.
Khu vực Tây - Nam huyện là vùng đồi núi, khu vực Tây - Bắc là vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ. Địa hình của huyện phân thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi ở phía Nam huyện; vùng đồi gò và vùng đồng bằng sông Hồng. Với địa hình khác nhau đã tạo cho Ba Vì một sắc thái riêng về điều kiện tự nhiên và khả năng đa dạng hóa trong phát triển sản xuất và kinh tế. Đặc biệt, với địa hình đồi núi đa dạng, phong phú, Ba Vì trở thành nơi tập trung nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp, nổi tiếng như : Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác Đa, Thiên sơn – Thác Ngà, Vườn Quốc gia, Tản Đà Reshop, Suối Hai, Đầm Long 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com … Đây là một trong những tiềm năng to lớn để phát triển du lịch văn hóa – lễ hội, sinh thái nghỉ dưỡng và văn hóa tâm linh.
Khí hậu : Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên cũng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. * Kinh tế - xã hội Kinh tế: Ba Vì là một vùng đất có tài nguyên phong phú, sản vật dồi dào, nhân dân cần cù lao động. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Đảng bộ tỉnh Hà Tây trước đây và Đảng bộ Thành phố Hà Nội hiện nay, Đảng bộ và nhân dân huyện Ba Vì đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, từng bước xây dựng huyện Ba Vì thành một trung tâm kinh tế, chính trị - văn hóa phát triển của Thành phố Hà Nội. Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên phong phú cùng những ưu đãi của thiên nhiên, trong nhiều năm qua các xã trong huyện đã duy trì và phát triển nền kinh tế đa dạng với nhiều ngành nghề nông, lâm nghiệp, công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch – dịch vụ.
Nhờ đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, vận động người dân, Ba Vì đã nhanh chóng bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 – 2010 đạt bình quân 14,0%/năm (mục tiêu đề ra 12 – 13%). Đến năm 2010, tổng giá trị tăng thêm đạt 4.311 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 16,0%, trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp tăng 5,2%, công nghiệp – xây dựng 20,0%, dịch vụ - du lịch 24%. Cơ cấu kinh tế năm 2010 có sự chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ trọng nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 38,6%, công nghiệp, xây dựng chiếm 19,6%, dịch vụ, du lịch chiếm 41,8%.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 16 triệu đồng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản được đầu tư theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo an ninh lương thực, tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị kinh tế. Tổng giá trị tăng thêm nhóm ngành tăng từ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 532,8 tỷ đồng năm 2005 lên 1.662 tỷ đồng năm 2010, tốc độ tăng trưởng của ngành năm 2010 là 5,2%. Trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, trồng trọt chiếm 54,2% và chăn nuôi là 45,8%[45, tr.
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản có tốc độ phát triển nhanh. Tổng giá trị tăng thêm nhóm ngành tăng từ 138,4 tỷ đồng năm 2005 lên 846 tỷ đồng năm 2010 ( riêng ngành công nghiệp 340 tỷ đồng). Năm 2010, tốc độ tăng trưởng đạt 20% và tỷ trọng nhóm ngành chiếm 19,6%. Thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, chè, chế biến sữa, giầy da, may mặc, … đạt kết quả tích cực.
Nhiều đơn vị đã đi vào hoạt động ổn định, góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương. Các làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, đến năm 2010 có 14 làng nghề đã được Thành phố công nhận. Đầu tư cơ sở hạ tầng đã được quan tâm, đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư được chú trọng. Tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2010 là 1.368 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là 656 tỷ đồng (chiếm 48%), vốn dân cư 410 tỷ đồng (chiếm 30% ), vốn đầu tư doanh nghiệp và các nguồn vốn khác 302 tỷ đồng (chiếm 22%) [45, tr.
Nhóm ngành dịch vụ, du lịch có tốc độ phát triển cao và đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tổng giá trị tăng thêm nhóm ngành từ 379 tỷ đồng năm 2005 tăng lên 1. Tốc độ tăng trưởng của ngành tăng 24% và tỷ trọng chiếm 41,8%. Dịch vụ thương mại phát triển mạnh, đảm bảo nhu cầu hàng hóa, vật tư, sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ năm 2010 đạt 1.
Dịch vụ ngân hàng, bưu chính, viễn thông, điện tiếp tục phát triển. Mạng lưới điện nông thôn được chuyển giao cho ngành điện quản lý, đầu tư đảm bảo nhu cầu phát triển. Ngành du lịch được quan tâm đầu tư. Đến năm 2010, có 15 doanh nghiệp hoạt động du lịch 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên địa bàn, thu hút khoảng 1,5 triệu lượt khách và doanh thu của ngành đạt 100 tỷ đồng.
Thu ngân sách Nhà nước có nhiều cố gắng đảm bảo các nguồn chi cho con người, chi đầu tư phát triển. Công tác quy hoạch được quan tâm chỉ đạo góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 theo quy hoạch chung của Thủ đô Hà Nội trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt. Hoàn thành một số quy hoạch ngành: quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sườn Đông và sườn Tây núi Ba Vì; quy hoạch thị trấn Tây Đằng; quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 các cụm công nghiệp Cam Thượng và cụm công nghiệp Đồng Giai,… Các dự án quy hoạch được phê duyệt làm cơ sở thu hút các cá nhân, tổ chức đầu tư khai thác, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số xã kinh tế phát triển chậm, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là 7 xã miền núi của huyện và 2 xã nằm ở giữa bãi sông Hồng. Điều này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Đảng bộ huyện để các xã này có thể bắt kịp với sự phát triển chung của nhân dân các xã trong huyện. Xã hội: Hiện nay Ba Vì có trên 26 vạn dân, gồm 3 dân tộc chủ yếu: Kinh, Mường và Dao (trong đó 2,2 vạn người thuộc dân tộc Mường và Dao) và một số dân tộc thiểu số khác. Ba Vì có huyện lỵ là thị trấn Tây Đằng nằm cạnh quốc lộ 32 và 32 xã.
Một trong những truyền thống tốt đẹp nhất của nhân dân Ba Vì nổi lên hàng đầu vẫn là truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Ngay từ cuộc kháng chiến đầu tiên của dân tộc ta chống phong kiến từ phương Bắc, khi 50 vạn quân Tần sang xâm lược nhiều làng ven sông Hồng đã tụ họp đoàn kết 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân binh chống lại, bảo vệ quê hương. Thời thuộc Hán, Ba Vì là quê hương của bà Man Thiện mẹ của hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị - Người đã có công sinh thành, dưỡng dục, khơi dây tinh thần yêu nước bất khuất của hai vị nữ anh hùng. Trong lịch sử dài ngàn năm Bắc thuộc, truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân Ba Vì không ngừng được khơi dậy, phát huy để giữ vững truyền thống văn hóa thời Hùng Vương dựng nước, truyền thống đoàn kết của con cháu Lạc Hồng.
Với truyền thống yêu nước nồng nàn, mỗi khi đất nước bị giặc ngoại xâm, nhân dân Ba Vì đều dốc lòng đóng góp sức người, sức của cùng cả nước chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, huyện Ba Vì có 5.017 liệt sỹ đã hy sinh … Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Công tác văn hóa, xây dựng nếp sống người Hà Nội văn minh, thanh lịch được chú trọng quan tâm và có nhiều tiến bộ. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”, được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng.
Đến năm 2010, có 80,6% hộ gia đình được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, có 96 làng và 46 cơ quan được công nhận danh hiệu văn hóa [45, tr. Nhiều chính sách xã hội mới của Đảng và Nhà nước được triển khai kịp thời, có hiệu quả tạo ra những thay đổi quan trọng trong đời sống nhân dân. Công tác chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm. Các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng được tạo điều kiện phát triển theo quy định của pháp luật, xử lý ngăn chặn kịp thời các hoạt động lợi dụng tôn giáo, gây mất trận tự an ninh.
Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình được quan tâm chỉ đạo và có nhiều tiến bộ.