Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng sinh học lớp 11- Trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử tình hình nghiên cứu, sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn MCQ vào dạy học trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình nghiên cứu sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trên thế giới Vào thế kỉ 17- 18 khoa học trắc nghiệm đầu tiên được áp dụng ở khoa vật lí tâm lí và sau đó đến động vật học. Sang đầu thế kỉ XIX, ở đức và nhiều nước Châu Âu khác đã bắt đầu sử dụng trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm sinh học Quentin Stodola cho rằng nguồn gốc của khoa học đo lường là trắc nghiệm tam lí, giáo dục hiện đại có thể gắn liền với mỗi quan tâm về khoa học vật lý, tâm lý ở cuối thế kỉ XIX 18 z Năm 1897 các trắc nghiệm tâm lý đầu tiên được đưa ra và sử dụng tại Leizig do wichelm weent thiết kế, các nhà khoa học đã sử dụng thí nghiệm để tiến hành các phép đo về thị giác thính giác, tốc độ phản ứng của cơ thể … Sau đó tiếp tục ứng dụng để nghiên cứu thời gian nhận thức, tốc độ học tập của người học…. Cuối thế kỉ XIX Francis Galton đã triển khai các thí nghiệm để đo các đặc điểm trí tuệ của con người, các thí nghiệm này đã mở ra một hướng đi mới để đi đến các trắc nghiệm về năng lực trí tuệ của cá nhân và sau đó là thí nghiệm theo nhóm Sang đầu thế kỉ XX, khoa học trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới. Năm 1904 ALFRED BINET – một nhà tâm lí học người Pháp khi nghiên cứu khảo sát những trẻ em mắc bệnh tâm thần, không có khả năng tiếp thu trí thức bằng cách dạy thông thường ở trường học, cùng với cộng sự ông đã phát minh ra bài trắc nghiệm về trí thông minh.
Năm 1910 bài trắc nghiệm của BINET được dịch ra ở Mĩ. Năm 1916 Lewis Terman đã dịch và soạn bài trắc nghiệm của BINET ra anh ngữ và từ đó bảng trắc nghiệm trí thông minh này được gọi là bản : Stanford Binet. Mặc dù không phải là các trắc nghiệm được dùng để đo lường thành quả học tập của học sinh phổ thông nhưng trắc nghiệm của Binet đã mở ra con đương để xây dựng trắc nghiệm theo nhóm dùng trong dạy học. Những năm sau đó Thom dike đã dùng TNKQ như một phương pháp“ khách quan nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức của học sinh.
Các thí nghiệm theo nhóm mang lại nhiều ưu điểm như: Dễ thực hiện, có tính khách quan, có độ tin cậy cao nên đã phát triển nhanh chóng ở Mĩ. Năm 1940 thì các bộ đề thi TNKQ cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế do quá đề cao, lạm dụng, sử dụng phương pháp này một cách quá máy móc nên trắc nghiệm đã thất bại. Vì vậy sau thời gian này đã xuất hiện nhiều ý kiến phản đối việc dùng trắc nghiệm trong nhà trường. Ở Liên Xô mãi đến năm 1960 mới cho phép phục hồi việc dùng trắc nghiệm khách quan để kiểm tra kiến thức của học sinh Vào năm 1964, cùng với sự phát triển của công nghệ tin học, Ghecberic và nhiều tác giả khác đã sử dụng máy vi tính để cài đặt chương trình sử lí kết quả 19 z chấm điểm, để chỉ ra giá trị của các bài trắc nghiệm và phiếu tự đánh giá thành quả học tập của nó trong dạy học Ngày nay phương pháp trắc nghiệm khách quan đã trải qua hàng loạt các thí nghiệm trong nhiều lĩnh vực thuộc các đối tượng khác nhau đã khẳng định tính khoa học và vị thế của nó.
Có thể nói việc kiểm tra trong thi cử ở hầu hết các trường hợp các châu lục phần lớn áp dụng phương pháp TNKQ .Sau này, với sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin, nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới đã cải tiến việc thực hiện phương pháp TNKQ ở các khâu như : Cài đặt các chương trình chấm điểm, xử lí và phân tích kết quả bằng máy tính khiến cho phương pháp trắc nghiệm thực sự trở thành công cụ hữu ích, nhất là đối với chương trình tự học, tự đào tạo 1. Tình hình nghiên cứu sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn ở Việt Nam Từ những năm 50 của thế kỉ XX, ở miền nam phương pháp trắc nghiệm khách quan được sử dụng sớm hơn so với miền Bắc và đã áp dụng rộng rãi trong các trường học. Lần đầu tiên sử dụng trắc nghiệm khách quan thông qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các tổ chức quốc tế tài trợ, sau đó phương pháp này được sử dụng phổ biến trong kiểm tra và thi ở bậc trung học, trong dó sinh học là môn được áp dụng đầu tiên Năm 1963, Nguyễn Quang Nghĩa xây dựng bộ “trắc nghiệm vạn vật lớp 12”. Năm 1964 Phùng Văn Hướng biên soạn cuốn “Phương pháp học và thi trắc nghiệm vạn vật lớp 12”.
Cuối năm 1969, giáo sư Dương Thiệu Tống đã đưa môn trắc nghiệm và thống kê giáo dục vào giảng dạy ở các lớp cao học và tiến sĩ tại trường Đại học Sài Gòn. Từ năm 1970 đã có những công tình vận dụng trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra kiến thức học sinh Ở miền Bắc GS Trần Bá Hoành công bố vào năm 1971 với tác phẩm “ Dùng phương pháp test dể kiểm tra nhận thức học sinh về một số khái niệm trong chương trình sinh học đại cương lớp 9”. Sau năm 1975 , một số trường tiểu học và trung học vẫn áp dụng thi trắc nghiệm MCQ trong các bộ môn khoa học tự nhiên 20 z Năm 1986, tại khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp thuộc trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tổ chức hội thảo tập huấn với nội dung “Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi lựa chọn đa phương án” do tiến sĩ P.Herath trình bày và hướng dẫn trong trương trình tài trợ của UNPD. Sau hội thảo này có nhiều giảng viên triển khai xây dựng và áp dụng trắc nghiệm vào KTDG như : Lê Đình Trung ( 1988) “ Nghiên cứu quy trình và những kết quả bước đầu xây dựng câu hỏi dạng MCQ về một số nội dung kiến thức sinh học ở trường Đại học sư phạm” : Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Kim Giang (1998) “ Xây dựng câu hỏi dạng MCQ về nội dung vật chất di tuyền và biến đổi vật chất di tuyền trong trương trình di truyền học ở Đại học sư phạm ” Từ năm 1990 , trắc nghiệm lượng giá mới thực sự được quan tâm và ứng dụng ở nhiều cấp học.
Từ sau năm 1990, với sự giúp đỡ của đề án “ Hỗ trợ hệ thống đào tạo chương trình hợp tác Việt Nam – Thụy Điển” (03/SIDA) .Bộ y tế đã mở những lớp tập huấn về kĩ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho toàn bộ giang viên trường y tế. Kết quả đã xây dựng được một bộ công cụ đáng giá bằng hệ thống câu hỏi test chuyên khoa Năm 1991- 1995, Giáo sư Trần Bá Hoành soạn thảo, đưa chính thức bộ câu hỏi trắc nghiệm Di truyền học và tiến hóa vào SGK lớp 12 chương trình chuyên ban KHTN Năm 1994, Bộ giáo dục và đào tạo phối hợp với viện công nghệ Hoàng Gia Melbourne của Autralia tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề về “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan” tại Thành phố Hồ Chí Minh – Huế - Hà Nội. Hội thảo đã trang bị cho giảng viên các tường đại học và Cao đẳng các cơ sở lí luận về trắc nghiệm khách quan. Năm 1994-1995 với sự tài trợ của liên hợp quốc, Đại học tổng hợp Hà Nội mở những lớp dài hạn bồi dưỡng về phương pháp xây dựng câu hỏi test và việc sử dụng nó vào dạy học.
Từ năm 1995 đến nay đứng đầu là GS.TS Đặng Ứng Vận đã triển khai xây dựng hệ thống câu hỏi MCQ dùng cho việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên thuộc đại học đại cương. Trung tâm đã thử nghiệm cài đặt hệ thống câu 21 z hỏi vào chương trình cua máy tính, sinh viên sử dụng máy vi tính để làm bài. Máy chấm điểm và cho kết quả ngay khi làm bài xong. Cũng vào những năm này PGS.
TS Lê Đình Trung với nghiên cứu về sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan MCQ để kiểm ta hiệu quả cua phương pháp giảng dạy tích cực ở phổ thông bằng “ bài toán nhận thức” đã khẳng định kết quả của trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kết quả học tập Từ năm 2000 đến nay PGS. TS Lê Đình Trung và TS. Trịnh Nguyên Giao đã chủ biên nhiều cuốn sách dùng cho ôn thi học sinh giỏi , ôn thi tốt nghiệp THPT, Cao đẳng, Đại học ….theo hướng TNKQ như : “1111 câu hỏi trắc nghiệm sinh học”, tuyển tập sinh học 1000 câu hỏi và bài tập ”, “chuyên đề luyện thi đại học” 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.
Các khái niệm ,phân loại câu hỏi 1. Khái niệm về câu hỏi Câu hỏi là dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một nhu cầu, một đòi hỏi, hay một mệnh lệnh cần được giải quyết Mỗi câu hỏi chứa đựng cả hai yếu tố, sự có mặt của cái chưa biết cần được giải quyết và điều đã biết liên quan đến điều cần tìm. Trong thực tế đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người chỉ nêu ra thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết thêm. Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người tạo ra các mâu thuẫn cần phải tìm tòi 1.
Phân loại câu hỏi Trong dạy học câu hỏi được sử dụng để hướng dẫn quá trình nhận thức của học sinh, đó là những yêu cầu đặt ra mà học sinh phải giải quyết bằng lời giải đáp. Tùy theo bản chất, mục đích, cách sử dụng mà người ta chia câu hỏi thành nhiều loại khác nhau .