Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 đánh dấu bước chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ kiến thức sang mô hình phát triển phẩm chất và năng lực người học. Dưới định hướng này, vai trò của học sinh được đặt vào vị trí trung tâm nhằm chủ động lĩnh hội tri thức ("thầy thiết kế, trò thi công"). Bài tập nhận thức (BTNT) là công cụ sư phạm tạo ra các tình huống mâu thuẫn nhận thức, thúc đẩy học sinh tự tìm tòi và kiến tạo kiến thức. Cùng với đó, Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (PISA) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khởi xướng tập trung đo lường năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn ở lứa tuổi 15 (lớp 10–11) qua ba lĩnh vực cốt lõi: đọc hiểu, toán học và khoa học.
Môn Địa lí lớp 11 mang đặc thù tích hợp các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội gắn liền với thực tiễn biến động của thế giới, đồng thời tích hợp các yêu cầu tính toán (cơ cấu GDP, tốc độ tăng trưởng, cán cân thương mại). Đây là điều kiện phù hợp để vận dụng tiếp cận PISA nhằm thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực. Từ bối cảnh trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Địa lí thực hiện đề tài "Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11".
Khóa luận xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng và sử dụng được một số BTNT theo tiếp cận PISA trong dạy học Địa lí 11 nhằm phát triển năng lực cho học sinh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí 11.
- Phân tích các nguyên tắc và yêu cầu trong việc xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA.
- Xây dựng và sử dụng một số BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí 11.
- Định hướng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của hệ thống bài tập đã xây dựng.
- Đưa ra các kết luận, đề xuất và kiến nghị sư phạm.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Các dạng BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí 11 có được xây dựng khả thi và hiệu quả để áp dụng vào giảng dạy ở trường phổ thông hay không?
- BTNT theo tiếp cận PISA trong dạy học Địa lí 11 góp phần nâng cao tính tích cực, vai trò độc lập và phát triển năng lực cho học sinh trong các hoạt động học tập đến mức độ nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học Địa lí ở trường THPT.
- Phạm vi nội dung: Quy trình thiết kế và tổ chức sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA phát triển ba thành phần năng lực (khoa học, toán học, đọc hiểu) trong dạy học Địa lí 11. Các dạng bài tập gồm: bài tập vận dụng kiến thức khoa học giải thích hiện tượng địa lí; bài tập tính toán địa lí (cơ cấu GDP, tốc độ tăng trưởng, cán cân thương mại); bài tập đọc hiểu (xử lý đoạn thông tin, tranh ảnh, bảng số liệu, biểu đồ).
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng tại một số trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương; tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Dĩ An, TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương (lớp 11A82 và 11B3).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai từ tháng 10/2023 đến tháng 04/2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi
- Quan điểm dạy học hiện đại: Khóa luận dựa trên ba trụ cột: lý thuyết dạy học kiến tạo (Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, 2016), dạy học lấy người học làm trung tâm, và dạy học định hướng phát triển năng lực (Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ và nnk, 2018).
- Khái niệm BTNT: Theo Trần Đức Tuấn (2007) trong Hướng dẫn biên soạn và giải bài tập Địa lí 11, BTNT là một bộ phận cơ bản của hệ thống bài tập địa lí, hạt nhân của hoạt động độc lập nhận thức, cấu trúc bao gồm: cái đã cho, cái cần tìm và phương thức giải quyết mâu thuẫn nhận thức.
- Khung đánh giá PISA: Vận dụng tài liệu PISA 2015 của OECD và Bộ Giáo dục & Đào tạo (2014), cấu trúc bài tập PISA gồm 4 thành phần: phần dẫn (ngữ cảnh thực tế), phần câu hỏi (đa dạng hình thức), các phương án trả lời, và thang mã hóa 3 mức (Mức đầy đủ, Mức chưa đầy đủ, Mức không đạt).
- Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 11: Dựa trên tài liệu tâm lý học lứa tuổi (Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, 1998; Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ), học sinh lớp 11 có tư duy trừu tượng và tư duy lý luận phát triển mạnh, khả năng ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo, có nhu cầu khẳng định bản thân và định hướng nghề nghiệp rõ nét.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Hệ thống hóa các văn bản lý luận về PISA, Chương trình GDPT 2018 môn Địa lí, tài liệu tâm lý học và các công trình nghiên cứu tiền nhiệm (Hoàng Thị Thu, 2018; Hoàng Thị Việt Hà, 2019; Phạm Kim Chung, 2017).
- Phương pháp khảo sát, điều tra: Thực hiện khảo sát trực tuyến bằng bảng hỏi đối với giáo viên Địa lí ($n = 51$) và học sinh lớp 11 ($n = 135$) tại TP.HCM và Bình Dương để đánh giá thực trạng sử dụng BTNT và các dạng câu hỏi PISA.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm một chủ đề cụ thể (Địa lí Nhật Bản) tại trường THPT Dĩ An; thu thập minh chứng qua hồ sơ học tập, bảng kiểm quan sát quá trình và bài kiểm tra đánh giá cuối chủ đề.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng bằng các đại lượng thống kê mô tả (giá trị trung bình - Mean, độ lệch chuẩn - SD, trung vị - Median) và thống kê suy luận để kiểm định sự tiến bộ của học sinh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11
Chương 1 tổng hợp bức tranh lý luận và thực trạng sư phạm môn Địa lí. Tác giả phân tích lịch sử đánh giá PISA của Việt Nam qua các chu kỳ, chứng minh sự tương thích giữa năng lực PISA và mục tiêu GDPT 2018:
| Chu kỳ PISA |
Số quốc gia tham gia |
Đọc hiểu (Điểm / Hạng) |
Toán học (Điểm / Hạng) |
Khoa học (Điểm / Hạng) |
| Năm 2012 |
65 |
508 / Hạng 19 |
512 / Hạng 17 |
528 / Hạng 8 |
| Năm 2015 |
72 |
487 / Hạng 32 |
495 / Hạng 22 |
525 / Hạng 8 |
| Năm 2018 |
79 |
505 / Hạng 13 |
496 / Hạng 24 |
543 / Hạng 4 |
Tác giả liên hệ với cấu trúc định dạng đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025 do Bộ GD&ĐT ban hành, bao gồm 3 phần: Phần I (Trắc nghiệm nhiều lựa chọn), Phần II (Trắc nghiệm Đúng/Sai chấm theo thang điểm 0,1 – 0,25 – 0,5 – 1 điểm cho 1 đến 4 ý đúng), Phần III (Trả lời ngắn). Đây là cơ sở thực tiễn để định hướng dạng thức câu hỏi PISA trong dạy học.
Kết quả khảo sát thực trạng dạy học trên mẫu $n = 51$ giáo viên (GV) và $n = 135$ học sinh (HS) cho thấy mức độ sử dụng các loại bài tập và câu hỏi:
| Kiểu bài tập / Kiểu câu hỏi |
Điểm trung bình GV (Mean) |
Độ lệch chuẩn GV (SD) |
Điểm trung bình HS (Mean) |
Độ lệch chuẩn HS (SD) |
| Kiểu BTNT |
|
|
|
|
| Bài tập tính toán địa lí |
4,88 |
0,582 |
3,44 |
0,690 |
| Bài tập giải thích khái niệm địa lí |
4,04 |
0,656 |
4,01 |
1,070 |
| Bài tập liên quan vấn đề thực tiễn |
3,84 |
0,536 |
3,85 |
0,694 |
| Bài tập đọc hiểu kiến thức địa lí |
2,45 |
0,996 |
2,98 |
0,654 |
| Kiểu câu hỏi |
|
|
|
|
| Trắc nghiệm nhiều lựa chọn |
4,41 |
0,666 |
4,67 |
0,879 |
| Câu hỏi đóng dựa trên đáp án có sẵn |
4,24 |
0,807 |
4,16 |
0,806 |
| Câu hỏi vẽ biểu đồ |
4,00 |
0,636 |
3,87 |
0,718 |
| Câu hỏi Đúng/Sai |
1,86 |
0,971 |
1,38 |
0,893 |
| Dùng lập luận đồng tình/bác bỏ |
1,73 |
0,818 |
2,84 |
0,975 |
Dữ liệu phản ánh: Các dạng bài tập đọc hiểu (Mean GV: 2,45) và câu hỏi Đúng/Sai theo dạng thức PISA (Mean GV: 1,86; Mean HS: 1,38) có tần suất sử dụng rất thấp trong thực tế giảng dạy, khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập mới.
Chương 2. Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11
Chương 2 thiết lập quy trình xây dựng BTNT theo tiếp cận PISA gồm 5 bước: Xác định mục tiêu/chuẩn kiến thức năng lực $\rightarrow$ Lựa chọn ngữ cảnh thực tiễn $\rightarrow$ Thiết kế câu hỏi theo các mức độ nhận thức $\rightarrow$ Xây dựng hướng dẫn mã hóa/đáp án 3 mức $\rightarrow$ Thử nghiệm và chỉnh sửa.
Tác giả thiết kế hệ thống bài tập tích hợp trong kế hoạch bài dạy minh họa chủ đề Địa lí Nhật Bản (thuộc mạch kiến thức Địa lí khu vực và quốc gia), kết hợp các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực (Dạy học hợp tác nhóm, Kĩ thuật Think – Pair – Share, chấm chéo đồng đẳng, trò chơi Rung chuông vàng, Kĩ thuật phòng tranh).
Hệ thống phiếu học tập (PHT) được xây dựng theo chuẩn PISA:
- PHT số 1 (Tình hình phát triển kinh tế): Phân tích bảng số liệu GDP, tốc độ tăng trưởng (1961–2020) và biểu đồ cơ cấu kinh tế; sắp xếp và vẽ sơ đồ tiến trình phát triển kinh tế qua các giai đoạn biến động (1952–1973, sau năm 1973, 1980–1989, sau 1990 và sau 2008); giải thích nguyên nhân phát triển.
- PHT số 2 (Công nghiệp): Khai thác văn bản thông tin thực tiễn về công nghệ chế tạo, luyện kim, hóa chất, điện tử - tin học và sự tác động của công nghệ cao đến ngành nông/ngư nghiệp (thành tựu ấp trứng nhân tạo nuôi lươn và cá ngừ).
- PHT số 3 (Nông nghiệp): Phân loại đặc điểm phát triển và phân bố các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản.
- PHT số 4 & 5 (Dịch vụ - Thương mại): Dạng thức câu hỏi Đúng/Sai có yêu cầu sửa sai cho nhận định chưa đúng về giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, xuất nhập khẩu, cán cân thương mại và đối tác thương mại của Nhật Bản.
- PHT số 6 (Các vùng kinh tế): Phân biệt 4 vùng kinh tế (Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku) qua màu sắc bản đồ và khớp nối bộ 20 từ khóa đặc trưng kinh tế.
- PHT số 7 & 8 (Luyện tập kĩ năng tính toán và vẽ biểu đồ): Tính toán cán cân thương mại giai đoạn 2000–2020 từ bảng số liệu trị giá xuất nhập khẩu; vẽ biểu đồ cột ghép/biểu đồ miền; rút ra nhận xét về sự chuyển dịch từ xuất siêu (2000–2010) sang nhập siêu (2015–2020).
Mỗi phiếu học tập đều đi kèm tiêu chí đánh giá quy đổi điểm rõ ràng dựa trên 3 mức mã hóa của PISA (Mức đầy đủ, Mức chưa đầy đủ, Mức không đạt).
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày tiến trình và kết quả thực nghiệm tại trường THPT Dĩ An (Bình Dương) trên học sinh hai lớp 11A82 và 11B3.
- Quy trình thực nghiệm: Triển khai trọn vẹn chủ đề Địa lí Nhật Bản sử dụng bộ phiếu học tập và kĩ thuật dạy học đã thiết kế. Quá trình học tập được giám sát thông qua bảng kiểm quan sát hành vi nhận thức, đánh giá chéo giữa các nhóm (sơ đồ xoay vòng nhóm $N_1 \rightarrow N_2 \rightarrow \dots \rightarrow N_8 \rightarrow N_1$), và đối chứng kết quả giữa hai đội A – B có học sinh điều hành và thư ký ghi nhận.
- Đánh giá sau thực nghiệm: Học sinh thực hiện bài kiểm tra đánh giá năng lực khoa học và đọc hiểu theo tiêu chí 3 mức độ, kết hợp thang đo thành tích. Dữ liệu thực nghiệm được phân tích thông qua các biểu đồ mức độ đạt trung bình của từng lớp (11A82 và 11B3) đối với từng thành phần năng lực (khoa học, đọc hiểu, tính toán).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Minh chứng thực trạng: Định lượng hóa khoảng trống trong thực tế giảng dạy Địa lí 11 qua khảo sát ($n=51$ GV, $n=135$ HS); chỉ ra sự mất cân đối khi bài tập trắc nghiệm nội dung chiếm ưu thế (Mean GV: 4,41), trong khi các dạng câu hỏi PISA như Đúng/Sai (Mean GV: 1,86) và đọc hiểu thông tin (Mean GV: 2,45) ít được chú trọng.
- Hệ thống hóa học liệu chuẩn PISA: Xây dựng thành công chuỗi 8 phiếu học tập tích hợp bài tập nhận thức tiếp cận PISA bao quát đầy đủ 3 miền năng lực (khoa học, toán học, đọc hiểu) cho chủ đề Địa lí Nhật Bản, kèm rubric chấm điểm 3 mức tương thích với định hướng thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025.
- Hiệu quả thực nghiệm: Dữ liệu thực nghiệm tại THPT Dĩ An chứng minh học sinh cải thiện rõ rệt năng lực tự chủ nhận thức, khả năng xử lý biểu đồ/số liệu phức hợp, và năng lực lập luận phản biện khi tham gia chu trình "thầy thiết kế, trò thi công".
Đóng góp của đề tài
- Khóa luận đóng góp quy trình thiết kế và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA chuyên biệt cho môn Địa lí lớp 11 theo Chương trình GDPT 2018.
- Cung cấp nguồn tư liệu học tập và công cụ kiểm tra đánh giá thường xuyên/định kì có tính ứng dụng trực tiếp cho giáo viên phổ thông và sinh viên ngành sư phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn thực nghiệm sư phạm giới hạn tại 01 trường THPT (THPT Dĩ An, tỉnh Bình Dương) trên quy mô 02 lớp học (11A82, 11B3). Thiết kế thực nghiệm sử dụng mô hình đánh giá trên một nhóm duy nhất qua tiến trình và bài kiểm tra sau tác động, chưa tổ chức đối chứng song song với lớp dạy theo phương pháp truyền thống trong cùng thời điểm. Hệ thống bài tập chi tiết mới tập trung vào chủ đề Địa lí Nhật Bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng thiết kế hệ thống BTNT theo tiếp cận PISA cho toàn bộ các quốc gia và khu vực còn lại trong chương trình Địa lí 11 (Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á...), đồng thời mở rộng triển khai thực nghiệm trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
Giá trị tham khảo
- Đối với giáo viên THPT môn Địa lí: Khóa luận cung cấp cấu trúc phiếu học tập, ma trận câu hỏi và thang đo mã hóa 3 mức độ theo PISA để ứng dụng vào thiết kế bài dạy định hướng năng lực và ra đề kiểm tra đánh giá theo định dạng sau năm 2025.
- Đối với sinh viên Sư phạm Địa lí và học viên sau đại học: Tài liệu là mẫu tham khảo về quy trình kết hợp khung lý thuyết PISA quốc tế với Chương trình GDPT 2018, phương pháp tổ chức các kĩ thuật dạy học tích cực (Think - Pair - Share, dạy học theo trạm, chấm chéo đồng đẳng), và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung đánh giá PISA được tác giả vận dụng gồm những thành phần năng lực nào trong môn Địa lí 11?
Khóa luận vận dụng khung PISA dựa trên 3 năng lực cốt lõi:
- Năng lực khoa học: Vận dụng kiến thức địa lí để giải thích các hiện tượng, phân tích mối quan hệ nhân quả tự nhiên - kinh tế - xã hội và đề xuất giải pháp.
- Năng lực toán học: Tính toán các chỉ số kinh tế địa lí như cán cân thương mại, cơ cấu GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế, xử lý số liệu thống kê.
- Năng lực đọc hiểu: Khai thác, chọn lọc và phân tích thông tin từ văn bản khoa học, biểu đồ, lược đồ và bảng số liệu thực tế.
2. Cấu trúc bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA trong khóa luận gồm những phần nào?
Mỗi bài tập được thiết kế gồm 4 phần:
- Phần dẫn: Đoạn văn bản, bảng số liệu, biểu đồ hoặc infographic cung cấp ngữ cảnh thực tiễn.
- Phần câu hỏi: Gồm câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn, câu hỏi Đúng/Sai có giải thích/sửa sai, câu hỏi đóng và câu hỏi mở đòi hỏi lập luận.
- Các phương án trả lời: Được thiết kế hợp lý, phương án nhiễu phản ánh các lỗi tư duy phổ biến của học sinh.
- Phần mã hóa: Đánh giá kết quả theo 3 mức (Mức đầy đủ, Mức chưa đầy đủ, Mức không đạt) kèm thang điểm quy đổi.
3. Thực trạng sử dụng các dạng câu hỏi PISA của giáo viên Địa lí trước khi thực nghiệm ra sao?
Theo số liệu khảo sát $n = 51$ giáo viên, các câu hỏi mang tính tiếp cận PISA có mức độ sử dụng rất thấp: câu hỏi Đúng/Sai đạt điểm trung bình $\text{Mean} = 1,86$ ($\text{SD} = 0,971$), câu hỏi yêu cầu dùng lập luận đồng tình/bác bỏ đạt $\text{Mean} = 1,73$ ($\text{SD} = 0,818$), và bài tập đọc hiểu đạt $\text{Mean} = 2,45$ ($\text{SD} = 0,996$). Ngược lại, trắc nghiệm nhiều lựa chọn truyền thống chiếm ưu thế với $\text{Mean} = 4,41$ ($\text{SD} = 0,666$).
4. Khóa luận đã tích hợp những kĩ thuật dạy học nào để tổ chức giải bài tập nhận thức trên lớp?
Tác giả định hướng sử dụng các kĩ thuật và phương pháp:
- Kĩ thuật Think – Pair – Share: Học sinh suy nghĩ cá nhân (Think), thảo luận cặp đôi thống nhất đáp án (Pair) và trình bày trước tập thể (Share).
- Quy trình làm việc nhóm 3 pha: Pha 1 (Hoàn thành nhiệm vụ/phiếu học tập), Pha 2 (Chuyển giao sản phẩm chấm chéo xoay vòng theo sơ đồ nhóm), Pha 3 (Đối chứng kết quả toàn diện giữa hai đội dưới sự điều hành của học sinh).
- Kĩ thuật phòng tranh và trò chơi học tập: Trình bày sản phẩm truyền thông và tổ chức luyện tập bằng trò chơi Rung chuông vàng.
5. Địa bàn và đối tượng khảo sát, thực nghiệm sư phạm của khóa luận được thực hiện ở đâu?
- Khảo sát thực trạng: Thực hiện trên $51$ giáo viên Địa lí và $135$ học sinh lớp 11 tại một số trường THPT thuộc TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương.
- Thực nghiệm sư phạm: Triển khai trực tiếp tại trường THPT Dĩ An (TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương) trên học sinh 2 lớp 11A82 và 11B3 trong năm học 2023–2024.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Phạm Hoàng Thảo đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và thiết kế quy trình xây dựng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA trong môn Địa lí lớp 11. Hệ thống bài tập minh họa chủ đề Địa lí Nhật Bản được xây dựng khoa học theo rubric mã hóa 3 mức độ, đáp ứng yêu cầu của Chương trình GDPT 2018 và định dạng đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025. Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Dĩ An khẳng định tính khả thi của hệ thống bài tập trong việc nâng cao tính tự chủ, tư duy phản biện và phát triển năng lực tổng hợp cho học sinh.