ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Quế (Cinnamomum loureirii Nees) là loài cây bản địa có nhiều công dụng, trong những năm gần đây cây Quế đã đƣợc gây trồng rộng rãi ở nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc. Với giá trị kinh tế cao, dễ gây trồng và chu kỳ kinh doanh không quá dài nhƣ một số loài cây gỗ khác, cây Quế có thể tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị, nhất là giá trị xuất khẩu. Tất cả các bộ phận của cây Quế nhƣ: vỏ, thân gỗ, lá, rễ đều có giá trị sử dụng trong một số ngành sản xuất và đời sống nên đều trở thành hàng hoá. Sản phẩm chính của cây Quế là vỏ Quế và tinh dầu Quế đƣợc sử dụng nhiều trong công nghiệp y dƣợc, công nghiệp chế biến thực phẩm, hƣơng liệu và chăn nuôi.
Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, y học cây Quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trƣờng sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nƣớc ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý. Tuy nhiên, Quế là một loài cây đặc sản riêng có của vùng nhiệt đới, chỉ thích ứng trong một số điều kiện khí hậu cũng nhƣ thổ nhƣỡng nhất định, trong khi nhu cầu tiêu thụ Quế lại khá phổ biến trên thế giới. Vì thế, việc nghiên cứu xác định các bệnh hại lá Quế đƣợc trồng trên các điều kiện sinh thái của từng vùng sẽ làm cơ sở cho việc trồng Quế có quy hoạch, tăng nguồn xuất khẩu, góp phần cải thiện môi trƣờng và cải thiện đời sống của đồng bào miền núi. Xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai cũng là một khu vực miền núi, Quế là cây xoá đói giảm nghèo nên đƣợc gieo trồng trên quy mô diện tích lớn, chứng tỏ đặc tính bản địa của cây Quế phù hợp với điều kiện sinh thái ở địa phƣơng.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, gần đây diện tích, năng suất, chất lƣợng của cây Quế đã suy giảm đáng kể. Nhằm xác định nguyên nhân gây bệnh và biện pháp quản lý bệnh hại cây Quế tại xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, tôi đã chọn đề tài: “Xác định nguyên nhân gây bệnh hại lá Quế (Cinnamomum loureirii Nees) và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại tại xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”. 1 Tính cấp thiếp của đề tài: Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về cây Quế. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh hại lá Quế tại xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai hãy còn hạn chế, do vậy mà chƣa có những thông tin đáng tin cậy về hiện trạng bệnh hại ở cây Quế, khả năng sinh trƣởng phát triển của các giống Quế trồng tại địa phƣơng, cũng nhƣ những điều kiện sinh thái của loài cây này.
Do đó, tôi nhận thức đƣợc việc nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh hại cho lá Quế và khả năng phát triển của một số giống Quế trồng tại xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai là thực sự cấp thiết. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin cần thiết, cơ bản cho việc phục hồi, phát triển rừng Quế và đồng thời đề xuất một số giải pháp bền vững trong quản lý bệnh hại lá cho cây Quế tại địa phƣơng. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm sinh thái học của cây Quế Tên địa phƣơng: Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy Quế.
Tên Việt Nam: cây Quế Tên khoa học: Cinnamomum loureirii Nees (Cây Quế) Họ Long Não (Lauraceae) Bộ Long Não (Laurales) Phân Lớp Ngọc Lan (Magnoliidae) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophita) Cây Quế là loại cây thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm, mƣa nhiều, nắng nhiều, vì vậy các vùng có Quế mọc tự nhiên nhiều ở nƣớc ta là vùng có lƣợng mƣa cao từ 2000mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hang năm từ 21⁰ C-23⁰ C, ẩm độ bình quân trên 80%. Quế sinh trƣởng tốt trên đất dồi núi có độ dốc thoải, tầng đất dày,ẩm, nhiều mùn, nhƣng phải thoát nƣớc, độ pH khoảng 5-6, đất phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granit, riolit. Quế không thích hợp với các loại đất đã thoái hóa, tầng đất mỏng, khô. Độ cao thích hợp thƣờng thấy từ 300-700m (độ cao tuyệt đối).
Nhân dân các vùng có Quế cho biết lên cao hơn cây Quế có xu hƣớng thấp, lùn, chậm lớn nhƣng vỏ dày và nhiều dầu, xuống thấp hơn cây Quế thƣờng dễ bị sâu, vỏ mỏng và ít dầu trong vỏ, đời sống của cây cũng ngắn hơn. Thân Quế sau khi bóc vỏ chế biến gỗ làm ván ghép thanh, ván sàn, đồ gia dụng hoặc làm cột chống… Theo tính toán, cứ 120-150 kg lá Quế thì chƣng cất đƣợc 1 kg tinh dầu với giá hiện nay từ 650. Do bán đƣợc giá và thị trƣờng tiêu thụ ổn định nên các cơ sở chế biến tinh dầu Quế ở Yên Bái đang tận thu lá Quế và đua nhau nâng giá thu mua. Nếu trƣớc đây các hộ chỉ bán lá Quế ở những cây khai thác với giá 500-800 đ/kg, đến 3 nay do giá thu mua khá hấp dẫn 1.500 đ/kg nên các hộ khai thác lá Quế cả ở những cây đang phát triển.
Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây Quế còn đóng góp vào việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nƣớc ở các vùng đất đồi núi dốc, giảm thiên tai nhƣ lũ lụt. Bởi vậy những năm gần đây việc gây trồng Quế luôn đƣợc sự quan tâm của các cấp chính quyền và ngƣời dân, diện tích rừng trồng Quế luôn tăng lên qua các năm. Theo thông tin chi cục Kiểm Lâm tỉnh Lào Cai, tính đến 31/10/2017 diện tích trồng Quế của toàn tỉnh là 24.385,1ha trong đó có 4 huyện có diện tích trồng Quế lớn nhất nhƣ: huyện Bảo Thắng 4.122,2ha, huyện Văn Bàn 4.606,2ha, huyện Bảo Yên 8.901,3ha, huyện Bắc Hà 5. Hiện nay cây Quế đã khẳng định là một trong những trồng mũi nhọn, góp phần xóa đó, giảm nghèo và làm giàu cho đồng bào.
Trƣớc sự tăng nhanh về mặt diện tích nên nhiều vƣờn ƣơm và rừng trồng Quế của tỉnh Lào Cai đang đứng trƣớc nguy cơ bị sâu bệnh hại tấn công. Theo báo cáo về tình hình sâu bệnh hại cây Quế tại Lào Cai, hầu các vƣờn ƣơm và rừng trồng Quế của tỉnh Lào Cai đang có dấu hiệu bị sâu bệnh hại nhƣng đặc biệt nghiêm trọng là tại Văn Bàn và Bảo Thắng nơi có nguồn Quế khá lớn. Năm 2016, có đến 45ha Quế ở huyện Văn Bàn bị chết khô, trong đó xã Nậm Tha có đến 20 – 30% diện tích bị nhiễm và đã có 10ha bị chết. Tháng 11 năm 2017, huyện Văn Bàn đã phải gửi công văn lên Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Lào Cai báo cáo về tình hình sâu bệnh hại cây Quế tại xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn về hiện Tƣợng cây Quế chết.
Nguyên nhân ban đầu đƣợc xác định là do bọ xít nâu xẫm, sâu đục cành ngọn và một số loại bệnh khác (Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam, 2017: Viện Bảo vệ thực vật. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, việc Sâu bệnh bùng phát thành dịch gây hại trên diện rộng hoàn toàn có thể xảy ra trong những năm tới. Nếu nhƣ không có những giải pháp kịp thời thì dịch sâu, bệnh hại của các địa phƣơng trồng Quế trên địa bàn tỉnh Lào Cai khó có 4 thể tránh khỏi. Hiện nay ở Lào Cai cũng chƣa có công trình điều tra nghiên cứu cụ thể về sâu bệnh hại Quế trên địa bàn tỉnh.
Nghiên cứu bệnh hại Quế trên thế giới Ở Ấn Độ và Sri Lanka cho biết, Quế có thể bị các bệnh thối đen do nấm Phenllinus lamaensi, mục trắng do Fomes ligosus, đốm khảm do nấm phấn hồng Corticium salmonicolor, thán thƣ do Glomerella cingulate và gỉ sắt do tảo Aecidium cinnamon, Cephaleuros virescens, Diplodia spp, Exobasidium spp… Một số loài tuyến trùng nhƣ Meloidoyne spp xâm nhập từ đất vào rễ cũng có thể gây hại đối với các quần thể Quế (Akhtar Husain et al. Karunakaran và Chandrasekharan (1980) đã nghiên cứu bệnh đốm lá và khô cành ngọn cây Quế Cinnamomum Zeylanicum do nấm Collectotrichum gloeosporides gây ra. Theo Zheng và cộng sự (2004) bệnh đốm tảo do Cephaleuros virescens lây nhiễm vào cây chủ bằng bào tử động trong điều kiện mƣa và trong không khí, từ tháng 3 tới tháng 10 ở vùng Hua’an tỉnh Fujian là bệnh rất nghiêm trọng đối với Quế. Đây là bệnh đơn chu kỳ, mần bệnh qua đông bằng bào tử túi xâm nhiễm trên lá.
Rajapakse và Wasantha (2007) đã công bố một số loại bệnh gây hại nghiêm trọng cho cây Quế ở Sri Lanka nhƣ: Bệnh đốm lá do nấm Cellectotricchm gloeospoirides gây ra và đƣợc tìm thấy ở hầu hết các vùng trồng Quế ở đây, gây ảnh hƣởng lớn đến sing trƣởng cho rừng trồng. Theo Jayasinhe và cộng sự (2017) Bệnh sần vỏ (Cinnamommum zeylaniucium Blume) là bệnh gây hại nghiêm trọng. Bệnh này gây thiệt hại năng suất to lớn trên những vùng trồng Quế và đƣợc tìm thấy trên tát cả những diện tích trồng Quế của Sri Lanka. Nghiên cứu bệnh hại Quế tại Việt Nam Theo Phạm Quang Thu (2016), điều tra cho thành phần loài sinh vật hại Quế tại Yên Bái và Quảng Nam.
Kết Quả thu đƣợc 23 loài vật gây bệnh, trong đó gồm có lớp Ulvophyceae có 1 loài; lớp Alphaprobacteria có 1 loài; lớp Leotiomycetes có 2 loài; lớp Sordariomycetes có 8 loài; lớp Dothideomycetes có 5 loài; lớp Agaricomycetes có 3 loài; lớp Oomycetes có 5 3 loài. Cụ thể gồm, bệnh hại lá: Bệnh thán thƣ Colletotrichum sp, bệnh khô lá Pestalotiopsis funerae, bệnh đốm lá Colletotrichum cinnamomi, bệnh phấn trắng Oidium sp, bệnh đốm lá Gloeospoium cinnamomi, …Bệnh hại thân, cành: Bệnh tua mực Agrobacterium tumefaciens, bệnh nứt cành Verticillium sp, bệnh khô cành Phomopsis sp,… Bệnh hại rễ: Bệnh thối rễ do Rhizoctonia solani và Phytophthora cinamomi,… Trong đó các loài gây hại chính cho Quế nhƣ: Bệnh tua mực do vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens, Bệnh phấn trắng do nấm Oidium sp, Bệnh thán thƣ do nấm Colletotrichum gloeosporioides. Năm 2017, Đặng Nhƣ Quỳnh và cộng sự cho biết Bệnh thối rễ do nấm Phytophthora cinnamomi gây hại Quế lần đầu tiên đƣợc ghi nhận ở Việt Nam Võ Duy Loan (2014) đã phát hiện đƣợc 12 loại bệnh: bệnh thối rễ nứt thân, bệnh thối rễ tơ, bệnh thối gốc nấm trắng, bệnh lở cổ rễ, bệnh thối nâu rễ, bệnh đốm lá, bệnh thán thƣ lá, bệnh tua mực, bệnh cao cành, bệnh thán thƣ non do nấm, tảo nấm hồng và 2 loại tuyến trùng là tuyến trùng mụn u và tuyến trùng ngoại ký sinh.