Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài. Thơ nữ Việt Nam đương đại: Cách tân về tư duy nghệ thuật gắn với các kiểu loại cái tôi trữ tình. Thơ nữ Việt Nam đương đại: Cách tân về hệ thống biểu tượng.
Thơ nữ Việt Nam đương đại: Cách tân về ngôn ngữ và giọng điệu. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Cho đến cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI khi thơ của các tác giả nữ thế hệ 8x ra đời thì thơ nữ Việt Nam đang dần khẳng định vị thế của mình, những sáng tác của các nhà thơ nữ đang ngày càng được dư luận và giới nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm. Ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam đương đại, các nhà thơ nữ theo xu hướng cách tân như: Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thị Thuý Hạnh, Trương Quế Chi, Trần Hạ Vi,.
đã tạo được sự chú ý và trở thành đối tượng của nhiều cuộc tranh luận văn chương. Trong giới lí luận, phê bình, chúng tôi thấy đã có một số công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam đương đại, thơ nữ Việt Nam đương đại có đề cập tới sáng tác của những nhà thơ này. Bên cạnh đó là những bài viết phân tích, bình luận trực tiếp về quan niệm sáng tác, giá trị nội dung, nghệ thuật trong những sáng tác cụ thể của họ. Chúng tôi tổng hợp những công trình nghiên cứu, những bài viết đáng chú ý liên quan đến sáng tác của các nhà thơ nữ đương đại theo xu hướng cách tân và chia thành hai vấn đề chính sau đây: 1.
Các công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam đương đại Trước hết, chúng tôi nhận thấy có nhiều bài giới thiệu, phê bình, những công trình nghiên cứu, tiểu luận về thơ Việt Nam đương đại nói chung (trong đó có đề cập tới thơ nữ Việt Nam đương đại), chẳng hạn như: Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay, những đổi mới cơ bản (Đặng Thu Thủy), Lý thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Hành trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại (từ sau phong trào thơ Mới) (Dương Thị Thúy Hằng), Giáo trình tư duy thơ hiện đại Việt Nam (Nguyễn Bá Thành), Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (Nguyễn Việt Chiến), Không gian khác (Mai Văn Phấn), Không gian văn học đương đại - Phê bình vấn đề và hiện tượng văn học 7 (Đoàn Ánh Dương), Văn học Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng (Nguyễn Đăng Điệp), Thơ Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI (Trần Thị Minh Tâm), Sự cách tân của thơ văn Việt Nam hiện đại (Bùi Công Hùng), Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại (Inrasara), Thơ và các hiện tượng thơ Việt Nam đương đại (Lê Lưu Oanh), Khuynh hướng cách tân trong thơ Việt Nam sau 1975 (Mai Văn Phấn), Nghĩ về thơ Việt đương đại (Hà Quảng), Thế hệ nhà văn sau 1975, họ là ai? (Chu Văn Sơn), Văn học và nền kinh tế thị trường trong mười năm thế kỉ (Nguyễn Phương), Thơ trẻ bức tranh chưa phân định màu sắc (Chu Thị Thơm),. Những bài viết, công trình nghiên cứu kể trên của các nhà phê bình, nghiên cứu khi tìm hiểu về thơ Việt Nam đương đại đã chỉ ra sự vận động của thơ Việt sau 1986, nêu lên nhiều nhận định về các xu hướng cách tân trong thơ Việt Nam nói chung và thơ nữ Việt Nam đương đại nói riêng. Trong đó, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến công trình nghiên cứu Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay, những đổi mới cơ bản (2011) của tác giả Đặng Thu Thủy. Tác giả đã đưa ra nhận xét xác đáng: “Quan sát quá trình vận động của thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay, chúng tôi nhận thấy rõ nỗ lực cách tân của những người cầm bút.
Đổi mới là vấn đề tất yếu, cũng là vấn đề sống còn của thơ giai đoạn này” [156, tr.6], cũng trong chuyên luận này Đặng Thu Thủy chỉ ra và phân tích một số đổi mới về cảm hứng, cách tân hình thức nghệ thuật trong thơ của các nhà thơ trẻ trong đó có các nhà thơ nữ trẻ đương đại, tác giả nêu quan điểm: những khao khát dục tính (gắn với khao khát tình yêu) là một biểu hiện cơ bản của cái tôi trong thơ đương đại mà biểu hiện rõ nhất ở Vi Thùy Linh: “Vi Thùy Linh là nhà thơ, hơn nữa còn là nhà thơ tiêu biểu khi đưa vấn đề này vào thơ. Linh gây shock với độc giả khi cô bước lên sân khấu thơ không phải với vẻ đoan trang kín đáo như bao cô gái Việt Nam truyền thống. Không phải che đậy, giấu mình và giấu người, giống như một Thị Mầu hiện đại, cô sẵn sàng phơi trần những khao khát, đam mê” [156, tr. Bên cạnh đó tác giả cũng phân tích, chỉ ra kiểu kết cấu linh hoạt, hiện đại (phân tán, gián đoạn, lắp ghép…) trong thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, … Giáo trình tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành cũng là tư liệu bổ ích khái quát những đổi mới về cảm hứng và nhận thức của tư duy thơ 8 Việt Nam đương đại, trong đó có luận điểm: “Thơ nữ và khát vọng tình dục như là cảm hứng chủ đạo” [142, tr.494 - 510] đã nhắc tới hiện tượng thơ của các nhà thơ nữ trẻ đương đại như thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư gắn với đặc trưng tình dục, giới tính, … như một biểu hiện sự nổi dậy của nữ quyền (Feminnism) và trích dẫn những quan điểm khen, chê trái chiều trong giới nghiên cứu, phê bình rồi đi đến kết luận: “Thơ nữ lên ngôi và khát vọng tình dục đang thấm đẫm các trang thơ nhiều đến mức không thể coi là hạn chế, lệch lạc hay rơi rớt … nó có tính thời đại, tính nhân loại.
Đó là xu hướng khẳng định tính tự do, dân chủ, nữ quyền và xu hướng bình đẳng giới có tính nhân loại mà thời kì hội nhập cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI đang đặt ra một cách cấp bách” [142, tr. Năm 2013, Trần Ngọc Hiếu bảo vệ thành công Luận án Lý thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ đương đại đã mở ra một hướng nghiên cứu mới khi lựa chọn lí thuyết trò chơi để tiếp cận thơ đương đại. Trong công trình của mình, tác giả tiến hành phân tích, làm rõ lí thuyết trò chơi trên tiến trình vận động - như một khuynh hướng trong thơ Việt Nam đương đại, đồng thời chỉ ra một số mô hình trò chơi trong thơ Việt Nam đương đại. Những thành quả của luận án này cũng là những gợi dẫn quí báu, cung cấp những tư liệu tham khảo giá trị cho chúng tôi khi tìm hiểu về phương diện cách tân nghệ thuật trong thơ nữ Việt Nam đương đại.
Ở các chuyên luận: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (Nguyễn Việt Chiến), Không gian khác (Mai Văn Phấn),. các tác giả đều đưa ra chủ kiến ghi nhận sự đóng góp của các nhà thơ nữ trong nền thơ đương đại như: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Phan Thị Vàng Anh, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Nguyễn Ngọc Tư, Trần Lê Sơn Ý, Lynh Bacaradi,. trên hành trình tìm tòi, cách tân, đổi mới thơ Việt. Luận án Hành trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại (từ sau phong trào Thơ mới) năm 2015 của Dương Thị Thuý Hằng là tài liệu tham khảo giá trị khi tìm hiểu về cách tân thơ Việt Nam hiện đại, thơ nữ Việt Nam đương đại.
Trong luận án, tác giả đã đề cập tới một vài gương mặt thơ nữ đương đại tiêu biểu như: Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly : “Từ thập kỉ 90 của thế kỉ XX, bắt đầu có một mạch ngầm vận động của thơ viết về dục tính với những 9 tên tuổi trẻ như Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly …”, “ý hướng cách tân nơi họ chính là triệt để trong cách thể hiện vấn đề bản năng dục tính của con người gắn liền với cái tôi cá nhân” [48, tr.136-137], “Trái ngược với Vi Thuỳ Linh thường tạo ra những cơn lốc dài và mạnh của chữ … Phan Huyền Thư chủ trương sự tiết chế và dồn nén của chữ trong thơ” [48, tr. Tác giả luận án cũng phân tích số liệu và đưa ra nhận định trong sáng tác của các nhà thơ nữ này “thơ tự do phát triển đa dạng, đặc biệt thơ văn xuôi chiếm ưu thế tuyệt đối” [48, tr. Tuy nhiên, một số vấn đề như: tư duy nghệ thuật gắn với các kiểu loại cái tôi trữ tình, biểu tượng, giọng điệu nghệ thuật tiêu biểu, … chưa được đi sâu phân tích, khảo sát cụ thể. Như vậy, nhìn chung các bài viết trên đều khẳng định nỗ lực cách tân, đổi mới trong thơ Việt Nam đương đại, đồng thời đề cập tới một số hiện tượng thơ nữ đương đại với những thành tựu và hạn chế trong sáng tác.
Tuy mới chỉ là những đánh giá khái quát, chưa chỉ ra được một cách toàn diện lực lượng sáng tác, đặc điểm của xu hướng cách tân nghệ thuật trong thơ nữ Việt Nam đương đại, nhưng những bài viết trên là những gợi dẫn quý báu để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, phân tích cụ thể và kĩ lưỡng hơn về xu hướng này.