Tổng quan luận án
Bản mô tả học thuật này phân tích luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài "Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản", do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Cẩm Vân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2022). Luận án được triển khai theo hướng tiếp cận nghiên cứu định tính, kết hợp thi pháp học văn bản, cấu trúc hệ thống, so sánh đối chiếu và văn hóa học.
| Thông tin hành chính |
Nội dung chi tiết |
| Đề tài luận án |
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản |
| Tác giả |
Đỗ Thị Cẩm Vân |
| Người hướng dẫn khoa học |
PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh |
| Cơ sở đào tạo |
Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam |
| Ngành đào tạo |
Văn học Việt Nam |
| Mã số chuyên ngành |
9 22 01 21 |
| Thời gian hoàn thành |
Năm 2022 (Lời cam đoan ký ngày 02 tháng 07 năm 2022) |
| Quy ước chữ viết tắt |
LVB: Liên văn bản; VB: Văn bản |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khái niệm tính liên văn bản (intertextualité / intertextuality) được nhà nghiên cứu văn học Julia Kristeva đề xuất lần đầu tiên vào năm 1967 trên nền tảng ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure, tư tưởng đối thoại của Mikhail Bakhtin và các luận điểm của chủ nghĩa Hình thức Nga. Kể từ khi ra đời, lý thuyết này nhanh chóng được các nhà hậu cấu trúc luận, cấu trúc luận và trần thuật học (như Roland Barthes, Harold Bloom, Michael Riffaterre, Gérard Genette) tiếp nhận, phát triển và vận dụng rộng rãi vào nghiên cứu văn học trên thế giới.
Tại Việt Nam, sau cột mốc Đổi mới năm 1986, tiểu thuyết đã bước vào quỹ đạo hiện đại hóa sâu sắc, làm thay đổi toàn diện quan niệm thể loại và lối viết. Tinh thần hậu hiện đại đã tác động đến tư duy sáng tác của nhiều nhà văn như Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư. Thực tiễn sáng tác xuất hiện hàng loạt hình thức nghệ thuật mang đậm dấu ấn liên văn bản: đối thoại với văn bản xã hội (social text) và diễn ngôn tập thể (collective discourse); vay mượn và giễu nhại huyền thoại, cổ tích; trích dẫn, viết lại, viết tiếp các văn bản cũ; pha trộn thể loại; hư cấu lịch sử; giễu nhại các chuẩn mực văn chương và văn hóa truyền thống mang tính giáo điều, khuôn sáo.
Mặc dù thực tiễn sáng tác thể hiện rõ nét tính liên văn bản, lý thuyết này tại Việt Nam vẫn chưa được khảo sát và hệ thống hóa một cách toàn diện. Các công trình công bố trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài dịch, bài giới thiệu lý thuyết chung hoặc vận dụng trên từng tác giả, tác phẩm riêng lẻ, chưa có công trình bao quát toàn bộ một giai đoạn văn học. Luận án xác định vấn đề trung tâm không chỉ dừng lại ở việc khảo sát các biểu hiện của liên văn bản trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986, mà còn lý giải sự tồn tại của nó như một lựa chọn tất yếu trong quan niệm sáng tạo gắn liền với hoàn cảnh xã hội – văn hóa, đồng thời xem xét khả năng gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ văn chương như một nỗ lực đổi mới mô hình thể loại tiểu thuyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích bao trùm của luận án là vận dụng lý thuyết liên văn bản như một công cụ phương pháp luận để nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam đương đại, từ đó chỉ ra sự vận động của thể loại tiểu thuyết trong tiến trình phát triển chung của văn học Việt Nam đương đại, đóng góp hướng tiếp cận mới bổ sung cho các lý thuyết phê bình hiện có. Để đạt mục đích này, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu hệ thống lý thuyết về liên văn bản làm cơ sở phương pháp luận; đồng thời tìm hiểu các vấn đề về sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đặc biệt là các xu hướng phát triển chính sau năm 1986.
- Phân tích và lý giải các hiện tượng của tiểu thuyết đương đại Việt Nam biểu hiện tính liên văn bản; đây là nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm của luận án.
- Chỉ ra những biến đổi căn bản trong nghệ thuật tiểu thuyết so với giai đoạn trước Đổi mới từ góc nhìn liên văn bản, được thực hiện lồng ghép xuyên suốt qua các chương cụ thể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại xét trên bình diện tính liên văn bản; đồng thời hệ thống hóa lý thuyết liên văn bản của phương Tây nhằm phục vụ mục tiêu "nội địa hóa" lý thuyết này vào thực tiễn nghiên cứu văn học Việt Nam.
- Phạm vi tư liệu và tác giả: Khảo sát các tác phẩm tiêu biểu thuộc hai khuynh hướng chính của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986:
- Khuynh hướng hậu hiện đại: Khảo sát tập trung các tác giả Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận.
- Khuynh hướng viết theo lối truyền thống với đề tài lịch sử: Khảo sát tập trung các tác giả Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo.
- Các tác giả khảo sát mở rộng: Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Châu Diên, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư.
- Phạm vi bình diện nghệ thuật: Luận án tập trung khảo sát các bình diện diễn ngôn tư tưởng, ngôn ngữ nghệ thuật và cấu trúc thể loại; các bình diện khác như hình tượng hay cổ mẫu không thuộc trọng tâm khảo sát.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới, tình hình dịch thuật, giới thiệu và ứng dụng lý thuyết này tại Việt Nam qua ba bình diện chính:
| Mảng nghiên cứu tổng quan |
Các tác giả, dịch giả và công trình tiêu biểu được trích xuất từ văn bản |
| Dịch thuật và giới thiệu lý thuyết quốc tế |
- L. Rjanskaya (bản dịch của Ngân Xuyên, 2007) bàn về nguồn gốc và ba cấp độ liên văn bản. - I. Tzurganova (chủ biên công trình thuật ngữ Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX) tổng thuật quan điểm R. Barthes, M. Riffaterre, M. Gresset. - Pierre-Marc de Biasi (Bửu Nam – Phạm Thị Anh Nga dịch) trình bày lịch sử lý thuyết từ thập niên 1970 đến nay. - Andrea Lesis-Thomas và Graham Allen (Nguyễn Văn Thuấn dịch) phân tích nguồn gốc Hình thức luận Nga, Bakhtin, Kristeva. - Julia Kristeva (Lã Nguyên dịch, 2011) với tiểu luận Một nền thi pháp học sụp đổ. - Liviu Petrescu (Lê Nguyên Cẩn dịch, 2013) bàn về liên văn bản trong thi pháp hậu hiện đại, Linda Hutcheon và chủ nghĩa lịch sử mới của Stephen Greenblatt. - Các công trình nền tảng đã dịch: F. Saussure, M. Bakhtin, J. Derrida, Umberto Eco. |
| Nghiên cứu lý thuyết tại Việt Nam |
- Hoàng Trinh (Từ kí hiệu học đến thi pháp học, 1993): Giới thiệu thuật ngữ sớm nhất, phân biệt đối thoại vi mô và liên văn bản vĩ mô. - Trần Đình Sử (1993, 1995, 2008): Phân tích tư tưởng đối thoại của Bakhtin, cập nhật quan niệm Kristeva và Roland Barthes. - Đỗ Đức Hiểu (Thi pháp hiện đại và mục từ trong Từ điển văn học bộ mới): Khẳng định tiểu thuyết là đa âm, liên văn bản; ứng dụng phân tích tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Minh Châu, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh. - Nguyễn Minh Quân (2001): Phân biệt liên văn bản kinh điển và hậu hiện đại. - Nguyễn Hưng Quốc (2005, 2007): Phân tích quan niệm liên văn bản và văn bản văn hóa. - Nguyễn Nam: Nghiên cứu thao tác liên văn bản của người viết và người đọc. - Trương Đăng Dung: Nghiên cứu sự tiếp nhận và diễn giải văn bản trong không gian liên văn bản. - Trịnh Bá Đĩnh: Khảo sát nguyên lý đối thoại Bakhtin, các kiểu quan hệ liên văn bản theo Genette và chủ biên công trình đề tài Nafosted Liên văn bản: Lí luận và thực tiễn văn học Việt Nam. - Nguyễn Văn Thuấn (Giáo trình Liên văn bản, 2019): Hệ thống hóa lý thuyết lịch sử và thi pháp liên văn bản. |
| Vận dụng nghiên cứu tiểu thuyết tại Việt Nam |
- Kỷ yếu hội thảo Văn học hậu hiện đại diễn giải và tiếp nhận (2011): Nguyễn Văn Hùng (nghiên cứu Giàn thiêu của Võ Thị Hảo), Nguyễn Thị Quỳnh Hương (tiểu thuyết Inrasara), Hoàng Thị Quỳnh Trang (tiểu thuyết William Faulkner), Nguyễn Văn Thuấn. - Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuấn (2013) về liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp và bài viết về Tên của đóa hồng của Umberto Eco (2018). - Luận văn của Nguyễn Văn Thành (2013) và bài viết của Nguyễn Thị Huế về tác phẩm Hồ Anh Thái. - Luận án tiến sĩ của Lê Thị Diễm Hằng (2014) về Haruki Murakami; Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2014) về Paul Auster. - Chuyên khảo của Thái Phan Vàng Anh (Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI – Lạ hóa một cuộc chơi, 2017) khảo sát liên văn bản và tính đối thoại. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy phần lớn các công trình trước đây tại Việt Nam chỉ dừng lại ở phạm vi giới thiệu lý thuyết, hoặc áp dụng vào phân tích một vài tác phẩm cụ thể, hoặc chuyên sâu vào sáng tác của một tác giả duy nhất (như trường hợp Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, Paul Auster, Haruki Murakami). Những công trình có tính khái quát giai đoạn như của Thái Phan Vàng Anh mới chỉ dừng ở mức nhận diện ban đầu, chưa khảo sát sâu và toàn diện các bình diện thi pháp.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Xây dựng một công trình nghiên cứu có hệ thống, vận dụng lý thuyết liên văn bản để bao quát cả một giai đoạn tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ sau năm 1986 đến những năm đầu thế kỷ XXI. Luận án đi sâu giải mã ba phương thức liên văn bản cốt lõi là giễu nhại, viết lại lịch sử và tương tác thể loại, gắn kết trực tiếp với hai khuynh hướng vận động chủ đạo (hậu hiện đại và hư cấu lịch sử), từ đó làm sáng tỏ quy luật vận động nội tại và sự chuyển đổi hệ hình của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống khái niệm và khung lý thuyết sử dụng
Luận án làm rõ và phân định ranh giới giữa hai khái niệm then chốt:
- Tính liên văn bản (intertextuality): Là thuộc tính bản thể khách quan có ở mọi văn bản nghệ thuật, làm cho văn bản trở thành một đơn vị liên ký hiệu (inter-semiotic). Ý nghĩa của văn bản là vô hạn, luôn ở dạng tiềm năng và chỉ được kích hoạt thông qua hành động đọc của độc giả trong mạng lưới văn hóa.
- Liên văn bản (intertext): Là mối quan hệ cụ thể giữa các văn bản, chỉ hoạt động tổ chức văn bản và các thủ pháp thi pháp cụ thể (như trích dẫn, giễu nhại, phỏng nhại, viết lại, lắp ghép).
Khung lý thuyết của luận án được hợp thành từ bốn trụ cột lý luận phương Tây:
- Lý thuyết của Julia Kristeva: Văn bản được định nghĩa là một "bức khảm các trích dẫn" (mosaic of quotations), là sự "hấp thu và biến đổi của một văn bản khác". Kristeva thay thế khái niệm tính liên chủ thể của Bakhtin bằng tính liên văn bản, thiết lập sơ đồ văn bản trên hai trục: trục ngang (quan hệ tác giả – độc giả) và trục dọc (kết nối văn bản hiện tại với hệ thống các văn bản bao quanh). Bà phân biệt cấu trúc geno-text (văn bản tương đương, số nhiều tạo nghĩa) với feno-text (văn bản mang tính hiện tượng, biểu hiện nghĩa giới hạn), đồng thời sử dụng khái niệm idéologème để chỉ chức năng phối kết liên văn bản.
- Nguyên lý đối thoại, đa thanh và carnaval của Mikhail Bakhtin: Đơn vị giao tiếp ngôn ngữ là phát ngôn, phục vụ đồng thời hai chủ thể: ý định trực tiếp của nhân vật và ý định bị khúc xạ bởi tác giả. Tiểu thuyết đa thanh là một chỉnh thể đối thoại chưa hoàn tất. Nguyên lý carnaval (hội giả trang) gắn với văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng, sử dụng tiếng cười tái sinh và hiện thực nghịch dị để loại trừ sự nghiêm chỉnh giáo điều, mở đường cho thủ pháp giễu nhại. Ngoài ra, Bakhtin khẳng định tiểu thuyết có khả năng dung nạp, lắp ghép mọi thể loại nghệ thuật và phi nghệ thuật.
- Quan niệm về "Cái chết của tác giả" và văn bản đa trị của Roland Barthes: Tuyên bố giải thiêng quyền uy độc tôn của tác giả, chuyển đổi tác giả thành "người biên chép" sinh thành đồng thời với văn bản. Độc giả được khai sinh như một không gian quy tụ mọi trích dẫn làm nên sự viết; việc đọc chính là sự sản xuất ý nghĩa. Trong S/Z (1970) và Từ tác phẩm đến văn bản (1971), Barthes xác lập quan niệm văn bản là một không gian đa chiều, phân mảnh, mang tính đa trị không thể giản quy thành một cấu trúc cố định.
- Hệ thống thi pháp xuyên văn bản của Gérard Genette: Trong công trình Palimpsests: văn chương ở độ hai, Genette định nghĩa văn bản như một bản viết cạo xóa (palimpsest) và phân loại 5 kiểu quan hệ xuyên văn bản (transtextuality):
- Liên văn bản (Intertextualité): Mối quan hệ cùng hiện diện giữa hai hoặc nhiều văn bản, biểu hiện qua trích dẫn (citation), đạo văn (plagiarism), ám chỉ (allusion).
- Cận văn bản (Paratextualité): Mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố bên lề như nhan đề, phụ đề, lời đề tặng, lời bạt, lời tựa, chú thích, tên chương.
- Siêu văn bản (Métatextualité): Văn bản bình luận, chú giải một văn bản khác một cách có phê phán (tiểu thuyết mang tính tư duy phê bình, giải thiêng).
- Thậm phồn văn bản (Hypertextualité): Mối quan hệ giữa hậu bản (hypertext) phát sinh từ tiền bản (hypotext) thông qua cải biến (giễu nhại - parody, chế nhạo - travesty, chuyển vị - transposition) hoặc bắt chước (phỏng nhại - pastiche, châm biếm - caricature, giả mạo - forgery).
- Kiến tạo văn bản (Architextualité): Mối quan hệ thể loại, sự tương tác, va chạm và chồng lấn giữa các thể loại văn học trong một chỉnh thể tác phẩm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuần túy trong lĩnh vực lý luận và lịch sử văn học, sử dụng phối hợp 4 phương pháp chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích thi pháp văn bản: Khảo sát các dấu hiệu hình thức mang tính nội dung của tính liên văn bản (thủ pháp trích dẫn, viện dẫn, chỉ dẫn giễu nhại, viết lại lịch sử, đan cài thể loại) để giải mã giá trị thẩm mỹ và tư tưởng của tác phẩm.
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Xem xét tác phẩm như một hệ thống mở trong mạng lưới liên văn bản đồng đại và lịch đại, đặt văn bản của một nhà văn trong mối liên hệ với sáng tác của chính họ, với các tác giả cùng thời đại và xuyên thời gian, xuyên quốc gia.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh tiểu thuyết Việt Nam đương đại với tiểu thuyết giai đoạn 1945–1975; đối sánh các tác giả trong cùng một khuynh hướng và giữa các tác phẩm của cùng một tác giả để chỉ ra quy luật kế thừa, cách tân và tiếp biến văn học.
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Đặt văn bản tiểu thuyết trong mạng lưới văn hóa rộng lớn (văn bản chính trị, lịch sử, đạo đức, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian), nhìn nhận tính liên văn bản như một biểu hiện của tính liên văn hóa (interculturality).
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc luận án gồm phần Mở đầu, 4 chương nội dung và phần Kết luận, được triển khai cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 dành trọn vẹn dung lượng để xác lập cơ sở phương pháp luận và điểm lại lịch sử vấn đề. Tác giả đi từ việc giải thích nguồn gốc thuật ngữ liên văn bản gắn với Julia Kristeva, Bakhtin, Saussure; làm rõ các khái niệm tính liên văn bản, văn bản, tính đối thoại, nguyên lý carnaval, người đọc và thi pháp liên văn bản theo Genette. Chương này phân tích chi tiết tình hình dịch thuật lý thuyết liên văn bản trên thế giới (qua các bài dịch của Ngân Xuyên, Lã Nguyên, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Văn Thuấn, Bửu Nam, Phạm Thị Anh Nga), đánh giá quá trình tiếp nhận lý thuyết này tại Việt Nam từ những bài viết ban đầu của Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu đến các công trình chuyên khảo của Trương Đăng Dung, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Văn Thuấn. Đồng thời, chương 1 tổng thuật thực tiễn vận dụng lý thuyết liên văn bản trong nghiên cứu tiểu thuyết trong nước và quốc tế, xác lập khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 2 phác họa diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 như một hệ hình nghệ thuật mới.
- Ngữ cảnh văn hóa mới: Tác giả chỉ ra bước ngoặt lịch sử sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của internet, công nghệ thông tin. Internet làm xuất hiện các blog học thuật, trang cá nhân (như blog của Trần Đình Sử, mạng xã hội của Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Trần Thanh Cảnh), thúc đẩy sự ra đời của các văn bản mở, dân chủ hóa quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học.
- Chuyển dịch quan niệm hiện thực và con người: Tiểu thuyết dịch chuyển dứt khoát từ phản ánh hiện thực sang kiến tạo hiện thực. Hiện thực sử thi thời kỳ 1945–1975 được thay thế bằng hiện thực đời tư, thế sự, đa chiều kích. Nhà văn dũng cảm tiệm cận những vấn đề nhạy cảm: cải cách ruộng đất, tham nhũng, mặt trái chiến tranh. Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh soi chiếu chiến tranh từ những mất mát bi thương, cái chết thê thảm và nỗi buồn thân phận con người; Tạ Duy Anh trong Thiên thần sám hối tái hiện xã hội đầy tội ác, thực dụng, tha hóa.
- Không gian giả tưởng, tâm linh và mờ hóa nhân vật: Hiện thực được mở rộng sang cõi vô thức, tiềm thức và tâm linh. Yếu tố giả tưởng, giấc mơ xuất hiện dày đặc trong Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Người sông Mê (Châu Diên), Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Người đi vắng, Vào cõi, Thoạt kì thủy, Những đứa trẻ chết già, Trí nhớ suy tàn, Ngồi (Nguyễn Bình Phương). Nhân vật bị mờ hóa, phiếm chỉ hóa thành "hắn" trong Chinatown (Thuận) hay Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh). Hiện thực kỳ ảo hòa quyện hiện thực đời thường trong Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh – đan xen thế giới thực dân, cách mạng với tín ngưỡng đạo Mẫu, phù thủy, ma trùng) và Đức Phật, nàng Sivitri và tôi (Hồ Anh Thái – đời thường hóa huyền thoại Đức Phật).
- Hai khuynh hướng nổi bật: Xác lập diện mạo của tiểu thuyết theo khuynh hướng hậu hiện đại (Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận) và tiểu thuyết hư cấu lịch sử (Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo).
Chương 3: Giễu nhại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 3 đi sâu nghiên cứu thủ pháp giễu nhại (parody) như một hiện tượng liên văn bản nổi bật hàng đầu của văn học đương đại.
- Bản chất của giễu nhại: Luận án phân tích từ nguyên Hy Lạp parodia (gồm tiền tố para mang nghĩa vừa chống lại vừa bên cạnh, và ode là bài hát) để khẳng định tính chất lưỡng nghĩa của giễu nhại: vừa lật đổ, giải thiêng vừa kế thừa, tái sinh ý nghĩa mới theo nguyên lý carnaval của Bakhtin.
- Ba phương thức giễu nhại tiêu biểu:
- Trích dẫn nhại: Nhà văn đưa các văn bản có sẵn (tác phẩm kinh điển, khẩu hiệu, diễn ngôn chính trị - xã hội) vào văn cảnh mới với mục đích tạo sự khập khiễng, nghịch dị, làm bộc lộ tính chất sáo rỗng hoặc lật ngược ý nghĩa ban đầu.
- Viện dẫn nhại: Khác với trích dẫn nguyên văn, viện dẫn nhại nhắc đến các sự kiện, nhân vật, điển cố hoặc mô típ quen thuộc nhưng được khúc xạ qua cái nhìn mỉa mai, làm biến dạng cấu trúc ngữ nghĩa truyền thống.
- Chỉ dẫn nhại: Khai thác hệ thống cận văn bản (lời đề từ, chú thích chân trang, tiêu đề chương, lời chỉ dẫn trần thuật) để đối thoại ngầm, châm biếm chính câu chuyện đang kể hoặc định hướng cách tiếp nhận mang tính hoài nghi cho độc giả.
- Đổi mới tiểu thuyết từ giễu nhại: Giễu nhại biến tiểu thuyết thành không gian đối thoại đa thanh: đối thoại với các vấn đề nhức nhối của xã hội và đối thoại với chính các quy phạm văn học nghệ thuật truyền thống, biến tiểu thuyết thành một "tác phẩm mở" đúng nghĩa.
Chương 4: Viết lại lịch sử và tương tác thể loại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 4 khảo sát hai phương thức tổ chức liên văn bản quan trọng làm thay đổi diện mạo thể loại:
- Viết lại lịch sử: Luận án khẳng định viết lại là một hiện tượng liên văn bản đặc thù, trong đó văn bản lịch sử được xem là tiền bản (hypotext). Tiểu thuyết đương đại không còn sao chép biên niên sử mà thực hiện tái kiến tạo lịch sử qua hai phương diện:
- Viết lại hình thức: Phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính, sử dụng kết cấu phân mảnh, đồng hiện, đa điểm nhìn, lắp ghép tư liệu lịch sử với hư cấu nghệ thuật.
- Viết lại nội dung: Giải thiêng các nhân vật và sự kiện lịch sử, nhìn nhận lịch sử từ góc độ đời tư, thế sự, đưa ra các giả thuyết lịch sử mới để đối thoại với chính sử (thể hiện qua các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo).
- Tương tác thể loại: Dựa trên quan niệm kiến tạo văn bản (architextualité) của Genette và tư tưởng Bakhtin về sự thâm nhập thể loại, chương này phân tích hai hình thức tương tác tiêu biểu:
- Thơ ca trong tiểu thuyết: Sự đan cài chất thơ, các bài thơ trữ tình vào mạch trần thuật làm chậm nhịp kể, tạo độ nhòe thẩm mỹ và mở rộng biên độ cảm xúc.
- Truyện ngắn trong tiểu thuyết: Việc lồng ghép các cấu trúc truyện ngắn độc lập vào tiểu thuyết tạo nên các tiểu tự sự, biến tác phẩm thành bức tranh ghép mảnh đa tầng, đa không gian.
- Đóng góp vào đổi mới thể loại: Sự kết hợp giữa viết lại lịch sử và tương tác thể loại mang lại tính đối thoại sâu sắc, đồng thời thực hiện quá trình huyền thoại hóa tiểu thuyết, làm phong phú ngôn ngữ trần thuật đương đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận
- Hệ thống hóa một cách có cơ sở khoa học các quan điểm lý thuyết liên văn bản trên thế giới (từ Bakhtin, Kristeva, Barthes đến Genette, Riffaterre), làm rõ mối quan hệ giữa liên văn bản với các phạm trù thi pháp học, ký hiệu học và chủ nghĩa hậu hiện đại.
- Đóng góp vào quá trình "nội địa hóa" lý thuyết văn học phương Tây vào môi trường học thuật Việt Nam, cung cấp một khung công cụ phương pháp luận mạch lạc để tiếp cận, phân tích và giải mã các hiện tượng văn học phức tạp sau năm 1986.
Về mặt thực tiễn
- Khảo sát toàn diện, có hệ thống các biểu hiện cụ thể của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại thông qua ba bình diện thi pháp: giễu nhại (trích dẫn nhại, viện dẫn nhại, chỉ dẫn nhại), viết lại lịch sử (về hình thức và nội dung) và tương tác thể loại (thơ ca, truyện ngắn trong tiểu thuyết).
- Khẳng định tính liên văn bản là một lựa chọn thẩm mỹ tất yếu gắn liền với bối cảnh biến đổi văn hóa – xã hội của thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế; chỉ ra bước chuyển hệ hình của tiểu thuyết Việt Nam từ phản ánh hiện thực sử thi sang kiến tạo hiện thực nghệ thuật đa chiều, đối thoại và mở.
- Đánh giá khách quan những tìm tòi, cách tân nghệ thuật của các nhà văn tiêu biểu đại diện cho hai khuynh hướng (hậu hiện đại và hư cấu lịch sử), ghi nhận những đóng góp của họ đối với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu và các giới hạn được tác giả trình bày trong luận án:
- Hạn chế về phạm vi khảo sát tác giả và tác phẩm: Do quy mô của tiểu thuyết Việt Nam đương đại rất lớn, luận án chỉ tập trung khảo sát sâu một số tác giả tiêu biểu thuộc hai khuynh hướng chính (hậu hiện đại với Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận; hư cấu lịch sử với Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo). Nhiều tác giả, tác phẩm có tìm tòi liên văn bản đáng chú ý khác chỉ được nhắc đến như những minh chứng bổ trợ, chưa được phân tích thấu đáo.
- Hạn chế về bình diện văn bản: Luận án tập trung chủ yếu vào các bình diện diễn ngôn tư tưởng, ngôn ngữ nghệ thuật và thể loại. Các bình diện nghệ thuật giàu tiềm năng liên văn bản khác như hệ thống hình tượng nghệ thuật, cổ mẫu (archetype) và biểu tượng văn hóa chưa được đi sâu khảo sát.
- Hạn chế về các phương thức liên văn bản: Luận án ưu tiên giải quyết ba thao tác chủ đạo là giễu nhại, viết lại và tương tác thể loại; các hiện tượng liên văn bản phức tạp khác như ảnh hưởng và đọc sai (misreading), phỏng nhại (pastiche), chuyển dịch mã văn hóa chưa được khảo sát thành các chuyên mục riêng biệt.
- Hướng nghiên cứu tiếp nối: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các khuynh hướng tiểu thuyết khác (như tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết tự truyện, tiểu thuyết sinh thái); nghiên cứu sâu hơn bình diện cổ mẫu và không gian liên văn hóa; khảo sát sự tương tác giữa văn học mạng, công nghệ số và liên văn bản trong bối cảnh văn hóa đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành có giá trị thực tiễn đối với nhiều đối tượng trong nghiên cứu và đào tạo:
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Luận án cung cấp một mô hình vận dụng lý thuyết phương Tây vào thực tiễn văn học dân tộc một cách bài bản, từ khâu xác lập khung lý thuyết, thao tác hóa khái niệm đến khâu phân tích dẫn chứng thi pháp văn bản.
- Đối với giảng viên đại học: Tài liệu hữu ích phục vụ trực tiếp việc biên soạn giáo trình, bài giảng chuyên đề về Tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Văn học Việt Nam sau 1975, Thi pháp học hiện đại và Các lý thuyết phê bình văn học thế kỷ XX–XXI.
- Đối với các nhà phê bình văn học và giới nghiên cứu: Luận án cung cấp hệ thống tiêu chí và công cụ để tiếp cận, giải mã các tác phẩm tiểu thuyết đương đại phức tạp, có cấu trúc phi tuyến tính, đa tầng nghĩa hoặc sử dụng thủ pháp giễu nhại, viết lại lịch sử.
- Phần đáng tham khảo nhất: Chương 1 với hệ thống tư liệu dịch thuật và tổng thuật lý thuyết công phu; cùng Chương 3 và Chương 4 với hệ thống thao tác phân tích thi pháp liên văn bản cụ thể trên các văn bản tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận, Nguyễn Xuân Khánh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "tính liên văn bản" và "liên văn bản" như thế nào?
Theo phân tích của tác giả ở Chương 1, hai thuật ngữ này có nội hàm khoa học khác nhau:
- Tính liên văn bản là một thuộc tính bản thể khách quan có ở mọi văn bản nghệ thuật, làm cho văn bản trở thành một đơn vị liên ký hiệu; ý nghĩa của văn bản là vô hạn và chỉ được sản sinh qua hoạt động đọc.
- Liên văn bản là mối quan hệ giữa các văn bản cụ thể, chỉ hoạt động tổ chức văn bản và các thủ pháp thi pháp (như trích dẫn, giễu nhại, viết lại, lắp ghép). Tuy nhiên, trong thực tế diễn đạt, hai thuật ngữ này đôi khi được tác giả dùng linh hoạt tùy theo ngữ cảnh cụ thể.
2. Năm kiểu quan hệ xuyên văn bản theo Gérard Genette được luận án trình bày gồm những kiểu nào?
Căn cứ công trình Palimpsests: văn chương ở độ hai của Gérard Genette, luận án trình bày 5 kiểu quan hệ xuyên văn bản (transtextuality):
- Liên văn bản (Intertextualité): Quan hệ đồng hiện diện (trích dẫn, đạo văn, ám chỉ).
- Cận văn bản (Paratextualité): Quan hệ giữa văn bản chính với các yếu tố bên lề (nhan đề, phụ đề, lời bạt, lời tựa, lời đề từ, chú thích).
- Siêu văn bản (Métatextualité): Sự bình luận, chú giải một văn bản khác một cách có phê phán.
- Thậm phồn văn bản (Hypertextualité): Quan hệ giữa hậu bản (hypertext) phát sinh từ tiền bản (hypotext) qua cải biến hoặc bắt chước.
- Kiến tạo văn bản (Architextualité): Mối quan hệ về mặt thể loại, sự tương tác và chồng lấn thể loại.
3. Hai khuynh hướng tiểu thuyết chính và các tác giả tiêu biểu được luận án lựa chọn khảo sát là gì?
Luận án tập trung khảo sát hai khuynh hướng chính của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986:
- Khuynh hướng hậu hiện đại: Đại diện tiêu biểu là các nhà văn Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận.
- Khuynh hướng viết theo lối truyền thống với đề tài lịch sử: Đại diện tiêu biểu là các nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo.
Ngoài ra, luận án mở rộng khảo sát các tác phẩm của Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Châu Diên.
4. Các phương thức giễu nhại tiêu biểu trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại được luận án phân tích ở Chương 3 gồm những hình thức nào?
Ở Chương 3, luận án phân tích ba phương thức giễu nhại cơ bản:
- Trích dẫn nhại: Lắp ghép các trích đoạn văn bản có sẵn vào văn cảnh mới để tạo tính nghịch dị, đa thanh.
- Viện dẫn nhại: Gợi nhắc, viện dẫn các mô típ, sự kiện, điển cố văn hóa để lật ngược hoặc tái diễn giải ý nghĩa.
- Chỉ dẫn nhại: Sử dụng lời đề từ, phụ chú, hệ thống cận văn bản để tạo ra sự đối thoại mỉa mai với văn bản chính.
5. Sự thay đổi trong quan niệm hiện thực của tiểu thuyết sau 1986 được luận án luận giải ra sao?
Luận án chỉ ra sự dịch chuyển căn bản từ phản ánh hiện thực sang kiến tạo hiện thực:
- Từ bỏ hiện thực sử thi thuần nhất, lý tưởng hóa của giai đoạn 1945–1975 để chuyển sang hiện thực đời tư, thế sự đa chiều, phức tạp.
- Nhìn thẳng vào những mất mát bi thảm của chiến tranh (như trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh) và những góc khuất tha hóa của xã hội (như trong Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh).
- Mở rộng hiện thực sang thế giới tâm linh, tiềm thức, vô thức, giả định và các giấc mơ (trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Chu Lai).
- Kết hợp hài hòa giữa hiện thực đời thường và yếu tố kỳ ảo, tâm linh tín ngưỡng (như trong Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản" của Đỗ Thị Cẩm Vân là một công trình nghiên cứu định tính có hệ thống về thi pháp tiểu thuyết giai đoạn sau năm 1986. Tác giả đã tiếp thu và vận dụng nhất quán khung lý thuyết liên văn bản phương Tây để khảo sát sâu sắc các hiện tượng giễu nhại, viết lại lịch sử và tương tác thể loại trong văn học dân tộc. Công trình làm sáng rõ quy luật vận động nội tại của thể loại, ghi nhận nỗ lực chuyển đổi hệ hình tiểu thuyết hướng tới tính chất đa thanh, đối thoại và mở. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật và phương pháp luận đáng tin cậy cho công tác giảng dạy, nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại.