Luận án tiến sĩ: Phân tích tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ góc nhìn lý thuyết liên văn bản

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiểu thuyết việt nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

168
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lý thuyết liên văn bản

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc áp dụng lý thuyết liên văn bản để phân tích tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Lý thuyết này, được Julia Kristeva khởi xướng, nhấn mạnh rằng mọi văn bản đều là sự kết hợp của các trích dẫn và chịu ảnh hưởng từ các văn bản khác. Tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn đương đại đã thể hiện rõ tính liên văn bản thông qua các thủ pháp như giễu nhại, viết lại lịch sử, và tương tác thể loại. Luận án không chỉ khảo sát các biểu hiện của tính liên văn bản mà còn giải thích sự tồn tại của nó như một lựa chọn tất yếu trong sáng tạo văn chương.

1.1. Khái niệm tính liên văn bản

Tính liên văn bản là một thuộc tính cố hữu của mọi văn bản nghệ thuật, thể hiện qua mối quan hệ giữa các văn bản. Theo Julia Kristeva, mọi văn bản đều là sự hấp thu và biến đổi từ các văn bản khác. Khái niệm này mở ra cách tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là trong tiểu thuyết đương đại, nơi các tác phẩm thường xuyên tham chiếu đến các văn bản văn hóa, lịch sử, và xã hội.

1.2. Liên văn bản và nội hàm văn bản

Liên văn bản không chỉ là mối quan hệ giữa các văn bản mà còn là cách thức văn bản được kiến tạo. Kristeva sử dụng phép ẩn dụ về bức tranh khảm để mô tả sự tương tác giữa các yếu tố trong văn bản. Trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, điều này thể hiện qua việc các tác giả sử dụng các trích dẫn, giễu nhại, và viết lại để tạo nên những tác phẩm đa tầng nghĩa.

II. Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã trải qua nhiều thay đổi lớn, đặc biệt là sau năm 1986. Các tác giả như Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, và Nguyễn Việt Hà đã đưa vào tác phẩm của mình những yếu tố hậu hiện đại, tạo nên sự đa dạng trong cách tiếp cận và biểu đạt. Lý thuyết liên văn bản giúp làm rõ những đổi mới này, từ việc kiến tạo hiện thực đến cách cá thể hóa nhân vật và đổi mới bút pháp nghệ thuật.

2.1. Tiểu thuyết hậu hiện đại

Tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam đã phá vỡ các quy ước truyền thống, sử dụng các thủ pháp như giễu nhại, trích dẫn, và viết lại để tạo nên những tác phẩm mang tính đối thoại cao. Các tác giả như Nguyễn Việt Hà và Hồ Anh Thái đã khai thác sâu sắc các vấn đề xã hội và văn hóa, tạo nên những tác phẩm phản ánh hiện thực một cách đa chiều.

2.2. Tiểu thuyết lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn đương đại cũng có sự đổi mới đáng kể. Các tác giả như Nguyễn Xuân Khánh và Nguyễn Mộng Giác đã sử dụng lý thuyết liên văn bản để viết lại lịch sử, tạo nên những tác phẩm vừa mang tính truyền thống vừa có sự cách tân. Điều này thể hiện qua việc họ kết hợp các yếu tố văn hóa, tôn giáo, và lịch sử để tạo nên những câu chuyện đa tầng nghĩa.

III. Giễu nhại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Giễu nhại là một trong những thủ pháp nổi bật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, thể hiện rõ tính liên văn bản. Các tác giả sử dụng giễu nhại để phản ánh và phê phán các vấn đề xã hội, văn hóa, và chính trị. Thủ pháp này không chỉ tạo nên sự hài hước mà còn mang tính chất đối thoại sâu sắc, giúp người đọc nhìn nhận hiện thực từ nhiều góc độ khác nhau.

3.1. Trích dẫn nhại

Trích dẫn nhại là một hình thức giễu nhại phổ biến, nơi các tác giả sử dụng các trích dẫn từ các văn bản khác để tạo nên sự đối thoại hoặc phản biện. Trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, điều này thể hiện qua việc các tác giả nhại lại các văn bản văn hóa, lịch sử, và chính trị, tạo nên những tác phẩm mang tính chất phản ánh và phê phán.

3.2. Viện dẫn nhại

Viện dẫn nhại là một hình thức khác của giễu nhại, nơi các tác giả sử dụng các yếu tố từ các văn bản khác để tạo nên sự đối thoại hoặc phản biện. Trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, điều này thể hiện qua việc các tác giả viện dẫn các yếu tố văn hóa, lịch sử, và chính trị để tạo nên những tác phẩm mang tính chất phản ánh và phê phán.

IV. Viết lại lịch sử và tương tác thể loại

Viết lại lịch sửtương tác thể loại là hai thủ pháp quan trọng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, thể hiện rõ tính liên văn bản. Các tác giả sử dụng các thủ pháp này để tạo nên những tác phẩm đa tầng nghĩa, phản ánh hiện thực từ nhiều góc độ khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú thêm nội dung tác phẩm mà còn tạo nên sự đối thoại giữa các yếu tố văn hóa, lịch sử, và xã hội.

4.1. Viết lại lịch sử

Viết lại lịch sử là một thủ pháp quan trọng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, nơi các tác giả sử dụng các yếu tố lịch sử để tạo nên những câu chuyện mới. Điều này thể hiện qua việc các tác giả như Nguyễn Xuân Khánh và Nguyễn Mộng Giác sử dụng các yếu tố lịch sử để tạo nên những tác phẩm mang tính chất phản ánh và phê phán.

4.2. Tương tác thể loại

Tương tác thể loại là một thủ pháp khác trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, nơi các tác giả kết hợp các yếu tố từ các thể loại khác nhau để tạo nên những tác phẩm đa dạng. Điều này thể hiện qua việc các tác giả sử dụng các yếu tố từ thơ ca, truyện ngắn, và các thể loại khác để tạo nên những tác phẩm mang tính chất đa tầng nghĩa.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tiểu thuyết việt nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái quát một số điểm chủ yếu của lý thuyết liên văn bản 1. Về khái niệm tính liên văn bản Trước hết cần nói rằng, hai thuật ngữ tính LVB và LVB được sử dụng trong luận án này có nội dung khoa học khác nhau. Tính LVB là một thuộc tính, là kết quả có ở mọi VB nghệ thuật.

Khái niệm này có ý nghĩa khoa học hơn vì là nội dung chủ yếu của lý thuyết LVB (intertextuality). Còn khái niệm LVB là mối quan hệ giữa các VB, mục đích LVB là hoạt động của tổ chức VB, có nét nghĩa thi pháp cũng gần với cách hiểu thông thường hơn (các kiểu, thủ pháp LVB). Tuy nhiên trong quá trình viết, ở một số chỗ trong luận án, có lúc chúng được sử dụng cùng nghĩa, phù hợp với cách diễn đạt trong hoàn cảnh cụ thể. Cho đến nay, nội hàm của khái niệm tính LVB vẫn chưa được đóng khung, mà ở đó vẫn có những lối mở như chính tên gọi của nó, do “xuất phát từ những hệ quy chiếu khác nhau, lý thuyết về tính LVB trở nên phức tạp, đa nguyên, xuyên trường phái, mở và năng sản” [125, trxxv].

Jacques Derrida cho rằng mỗi VB đều là một phức hợp “ghép nối” [76, tr. Genette cho rằng LVB “. là việc người đọc nhận thức được những mối quan hệ giữa một tác phẩm và những tác phẩm có sau hoặc trước nó” và đồng nhất LVB với chính nghĩa chữ của nó “LVB là. cơ chế riêng để đọc VB văn học.

Chỉ có mình nó làm sản sinh ra sự biểu đạt (signifiance) trong khi cách đọc theo tuyến tính, giống như những VB văn học hoặc phi văn học, lại chỉ sản sinh ra nghĩa (sens)” [138, tr. Còn Riffaterre đã định nghĩa lại tính LVB như sau “nó là một hiện tượng hướng dẫn lối đọc VB, mà lối đọc này sau cùng chi phối sự diễn giải về VB đó, và đó là lối đọc ngược lại với lối đọc tuyến tính. Lối đọc này là một kiểu mẫu tiếp nhận VB chi phối quá trình sản sinh sự tạo nghĩa (signifiance), trong khi lối đọc tuyến tính chỉ chi phối quá trình sản sinh ý nghĩa (sens). 7 Dù có những giới thuyết khác nhau nhưng chúng tôi có thể hiểu, LVB là một tính năng của tất cả VB.

LVB là điều kiện để tạo ra VB. Bất kỳ VB nào khi ra đời, để có thể tồn tại và hiểu được chỉ bằng cách thông qua các mối quan hệ với các VB trước nó. Nhờ đó mà VB tạo ra một quy trình mở trong đó nó vượt qua ranh giới của VB hiện tại để mở rộng đến những gì có thể là bên ngoài nó (bối cảnh, ý thức xã hội, thực tế,. Ý nghĩa của một ý nghĩa được xác định bởi một ý nghĩa khác, đến lượt nó được giải thích bởi một ý nghĩa khác và cứ thế tiếp tục.

Từ sự phân tích trên, chúng tôi khái quát: LVB là một thuộc tính của diễn ngôn văn học, làm cho văn bản trở thành một đơn vị liên kí hiệu. Tính liên văn bản định hình ý nghĩa của một văn bản trong mối quan hệ với những văn bản khác tạo nên diễn ngôn về văn hóa. Do đó, ý nghĩa văn bản là vô hạn và luôn ở dạng tiềm năng cho đến khi nó được kích hoạt bởi hoạt động đọc. Liên văn bản và nội hàm khái niệm văn bản Đề xuất khái niệm tính LVB trên cơ sở quan điểm tiên phong của Bakhtin, Julia Kristeva chính là người đã mở đường cho lý luận phê bình hậu hiện đại với những quan điểm quan trọng về nội hàm của VB: VB là “liên văn bản”, là “bức khảm các trích dẫn”, là “sự hấp thu và biến đổi của văn bản khác”,.

Đây là lối đi mở ra cho các nhà hậu cấu trúc, để cùng nhau bổ sung và hoàn thiện nội hàm lý thuyết về tính LVB. Một khái niệm cho đến nay vẫn chưa hoàn tất và xong xuôi. Qua tác phẩm Từ, đối thoại, tiểu thuyết, Kristeva đã giới thiệu Bakhtin đến các nước phương Tây. Trong công trình này, bà đã đề xuất khái niệm LVB thay thế cho tính đối thoại/tính liên chủ thể của Bakhtin.

Kristeva viết “khám phá mà Bakhtin là người đầu tiên đưa vào trong lý thuyết văn chương: mọi VB đều được xây dựng như một bức chạm khảm những trích dẫn. Mọi VB đều là sự hấp thu và chuyển hóa một VB khác”.234]; Kristeva đã sử dụng phép ẩn dụ của một bức tranh khảm để mô tả cách giải thích của mình về nội hàm của LVB trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc về tính đối thoại của Bakhtin. Một bức 8 tranh khảm thể hiện sự tương tác của nhiều màu sắc, kích cỡ và loại vật liệu khác nhau. Mặc dù một bức tranh khảm là một màn hình cụ thể trong lịch sử của một người nào đó diễn giải hoặc tạo ra một ý tưởng, nhưng bản thân bức tranh không phải là một điểm cố định.

Nó có thể phát triển hơn nữa. Chính nó, là một giao điểm của các mẫu, màu sắc và kiểu dáng khác nhau phối kết thành một VB. Các VB tiếp nhận, tiêu thụ, kết hợp và tiếp thu các VB khác, đồng thời, các chủ đề LVB này được tiếp thu và biến đổi trong các VB khác. Đối với Kristeva, ý nghĩa không thể được xem là một sản phẩm hoàn chỉnh, mà nó luôn trong quá trình sản xuất.

Khái niệm tính LVB từ nay thay thế cho khái niệm tính liên chủ thể. Nếu như Bakhtin quan niệm ngữ cảnh là hoàn cảnh xã hội thì Kristeva đã định vị cấu trúc văn chương trong tổng thể xã hội và tổng thể xã hội đó được xem như một tổng thể VB: “hầu như mọi thứ đều được coi như VB: văn học, văn hóa, xã hội, lịch sử và chính bản thân con người; từ đây xuất hiện lí thuyết về tính LVB. Như vậy, đối với Kristeva thì ngữ cảnh là văn bản xung quanh nó. Từ đó, Kristeva tiến hành quy chiếu VB vào một biểu đồ gồm có hai trục: trục ngang (horizotal axis) – thể hiện mối liên hệ giữa tác giả và người đọc; và trục dọc (vertical axis) – thể hiện cho sự kết nối một VB này với hệ thống VB khác bao quanh nó.

Bằng cách cùng quy chiếu hai trục ngang và trục dọc lên một VB, độc giả sẽ nhận ra quy tắc cốt lõi vận hành VB: “mọi VB ngay từ khi bắt đầu đã chịu ảnh hưởng và nằm trong phạm vi tác động của những giải trình ngôn ngữ khác nhau, mà mỗi giải trình ngôn ngữ như thế, luôn luôn chịu chi phối bởi một vũ trụ gồm nhiều VB khác. Trong mối quan hệ của trục dọc mà sơ đồ của Kristeva đề xuất, VB nghiên cứu đã được đặt vào một mạng LVB rộng lớn xung quanh, đó có thể là những VB đồng đại hoặc lịch đại. Độc giả cần là những người thông thái để có thể phát hiện ra sự biến đổi hoặc dấu vết của sự biến đổi có sự ảnh hưởng từ những VB khác. Cũng cần phải chú ý một vấn đề quan trọng là việc tìm dấu vết của một VB, không nhằm mục đích truy tìm nguồn gốc, mà chỉ cho thấy sự liên kết đan xen, chồng chất giữa chúng.

Bởi việc truy tìm xuất phát điểm của 9 một VB là điều khó thực hiện, vì “bất cứ VB nào cũng tạo nên như một bức tranh khảm chứa đựng cả một thiên hà các trích dẫn, bất cứ VB nào cũng mang dấu vết của sự hấp thụ và chuyển thể từ các VB khác. Với quan niệm này, tư tưởng của Kristeva đã đảo ngược lại với tư tưởng của các nhà cấu trúc luận. Nếu các nhà cấu trúc đóng khung VB trong một giới hạn khép kín của cấu trúc thì Kristeva đặt ra vấn đề “thay vì phải khoanh vùng sự chú ý của chúng ta vào giới hạn cấu trúc của VB, tại sao chúng ta không thử nghiên cứu tính chất cấu trúc ấy bắt nguồn từ đâu?” [101]. Điều này được Kristeva giải thích rõ: “những mã (code) của một cấu trúc VB như là sự chuyển hóa những lớp (những mã) được lấy từ những VB khác.

Những quan niệm trên của Kristeva về tính LVB đã đặt tiền đề cho lý luận phê bình hậu hiện đại. Theo quan niệm của bà LVB là “chỗ giao cắt của các mặt phẳng VB khác nhau” “sự đối thoại của các kiểu viết khác nhau” [2, tr. Vì thế nên “đối với chủ thể có nhận thức, tính LVB là một dấu hiệu cho thấy bằng phương cách nào một VB đọc lịch sử và được cài lồng vào trong lịch sử. Kristeva đặt ra quan niệm về trò chơi tự do của cấu trúc trong tác phẩm Kí hiệu học – Sémiotiké (1969), mà sau này Derrida cũng đã tuyên ngôn về lí thuyết trò chơi cấu trúc trong việc giải cấu trúc thông qua bài báo cáo có tên “Cấu trúc, kí hiệu và trò chơi trong diễn ngôn của các khoa học nhân văn – La structure, le signe et le jeu dans le discours des sciences humaines”.

Sự tự do của trò chơi cấu trúc được Kristeva thực hiện thông qua khái niệm genotext – văn bản tương đương hay cận văn bản. Geno-text, Kristeva giải thích, “không phải là một cấu trúc mà là một “số nhiều tạo nghĩa”, nằm trong quan hệ với “fenotext” – VB mang tính hiện tượng (sản phẩm cuối cùng của lao động) tái hiện chỉ “một nghĩa có giới hạn”, vì thế, đó là sự nghèo nàn. Như vậy cấu trúc VB giờ đây không phải là một cấu trúc đã được bê tông hóa, không khô cứng, đông đặc hay đã được định hình sẵn theo khuôn ngay từ lúc sinh ra. Giới hạn nghĩa cho nó, nghĩa là cấp cho VB một ý nghĩa sau cùng.

Đồng thời, bà đã đề xuất thuật ngữ idéologème 10 – chức năng phối kết “sự tổ chức, phối kết của một VB bên trên những cấu trúc khác” [98]. Sự tổ chức phối kết làm nên tính giao xuyên VB và sự giao xuyên này đã “làm thay đổi lẫn nhau giữa những đơn vị thuộc về những VB khác nhau” [98]. Liên văn bản và tính đối thoại/đa thanh/phức điệu Tính đối thoại/đa thanh/phức điệu xuất phát từ Mikhain Mikhailôvích Bakhtin. Những công trình chủ yếu của M.

Bakhtin như Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepski (1929), Sáng tác của Phrăngxoa Rabơle và văn hóa dân gian thời Trung đại và phục hưng (1965), Những vấn đề văn học và mĩ học (1975), Mĩ học sáng tác ngôn từ (1979), Những bài báo phê bình văn học (1986),. Bakhtin được xem là nhân vật có ảnh hưởng bậc nhất trong nền lí luận phê bình thế giới bởi tư tưởng của ông trải dài ở nhiều khía cạnh: triết học, mĩ học, lí luận văn học,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Luận án tiến sĩ về tiểu thuyết Việt Nam đương đại qua lý thuyết liên văn bản" là một nghiên cứu chuyên sâu, áp dụng lý thuyết liên văn bản để phân tích các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Tài liệu này không chỉ làm rõ mối quan hệ giữa các văn bản trong nền văn học Việt Nam mà còn khám phá cách các tác phẩm đương đại kế thừa, phản ánh và biến đổi những giá trị văn hóa, lịch sử. Độc giả sẽ hiểu sâu hơn về sự đa dạng và phức tạp của tiểu thuyết Việt Nam, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu liên văn bản trong việc giải mã các lớp nghĩa ẩn sâu trong tác phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu sắc về các yếu tố văn hóa và xã hội trong văn học truyền thống. Ngoài ra, Luận văn văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tâm linh và văn hóa trong tác phẩm kinh điển. Cuối cùng, Luận văn bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong truyện cười mang đến cái nhìn toàn diện về xã hội Việt Nam qua lăng kính văn học. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh đa dạng của văn học Việt Nam.