Mở đầu xác định các khái niệm then chốt và thống nhất định nghĩa các khái niệm này làm cơ sở tiếp cận các vấn đề nghiên cứu luận án quan tâm một cách thống nhất. Trên cơ sở các định nghĩa, các bước thao tác hóa các khái niệm công cụ từ đó xác định các chỉ báo chủ yếu cho bộ công cụ nghiên cứu cũng như làm cơ sở cho các phân tích trong nội dung luận án được đưa ra. Dung lượng quan trọng của chương này giành trình bày các luận điểm lý thuyết, bao gồm hệ thống các luận điểm lý thuyết về vốn xã hộivà thuyết lựa chọn hợp lý. Xuất phát từ đặc thù trường hợp nghiên cứu sinh viên tốt nghiệp đã được lựa chọn, luận án tổng hợp khái quátcác chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam,cũng như phác hoạ thực trạng vấn đề lao động việc làm trong nước liên quan tới khách thể nghiên cứu đồng thời giới thiệu ngắn gọn về địa bàn nghiên cứu.
Nội dung cuối của chương giới thiệu các phương pháp và việc triển khai các phương pháp nghiên cứu trong thực tế, phương pháp tổng hợp và xử lý các số liệu điều tra. Chương thứ 3 và 4 của luận án trình bày các kết quả nghiên cứu. Trong đó, chương 3 giới thiệu các kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng việc làm, thực tế nhận thức về vốn xã hội và vốn xã hội của sinh viên tốt nghiệp.Chương 4 của luận án trình bày các kết quả nghiên cứu mô tả thực tế khai thác các nguồn lực từ mạng lưới quan hệ xã hội trong tìm kiếm việc làm và tác động của đến quá trình tìm kiếm và kết quả tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Cuối cùng là phần kết luận và các khuyến nghị.
Ngoài tổng kết các kết quả nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, luận án đưa ra các khuyến nghị đối với các nhóm đối tượng liên quan tới quá trình nhận thức, tạo dựng và sử dụng vốn xã hội trong thực tiễn đời sống nói chung và thị trường lao động nói riêng. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chương thứ nhất của luận án tổng hợp những vấn đề cơ bản của quá trình hình thành và phát triển của hệ thống lý thuyết về vốn xã hội. Tiếp đó là tổng quan các kết quả nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động của các học giả trong và ngoài nước. Có một thực tế là các nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động được triển khai ở nhiều hướng tiếp cận dưới các góc nhìn phong phú về vốn xã hội, điều này khiến cho nhiệm vụ tổng quan trở nên khó khăn hơn.
Một khó khăn khác xuất phát từ thực tế nghiên cứu trong nước, bên cạnh số ít các công trình nghiên cứu ban đầu về thị trường lao động trên cơ sở các luận điểm lý thuyết về vốn xã hội, còn có nhiều nghiên cứu khác về các vấn đề dân số, lao động, việc làm mà trong những phát hiện, một cách gián tiếp có đề cập tới sự tồn tại của vốn xã hội dưới các lớp vỏ khái niệm khác nhau (quan hệ xã hội, mạng lưới quan hệ, niềm tin …). Do đó, giải pháp điểm luận các nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết về vốn xã hội tiêu biểu nhất của các học giả trong và ngoài nước qua đó phác hoạ những phát hiện chủ yếu trong chủ đề này được lựa chọn. Đối với các nghiên cứu trong nước, các kết quả dù không trực tiếp nhưng có phát hiện vai trò của các yếu tố cấu thành vốn xã hội cũng sẽ được điểm luận nhằm định hình cái nhìn đầy đủ nhất về chủ đề tổng quan. Nghiên cứu về vốn xã hội Khoảng hai thập niên trở lại đây, khái niệm “vốn xã hội” được đề cập ngày càng thường xuyên trong giới khoa học xã hội.
Mặc dù vậy, cho đến nay khái niệm này không khỏi khiến ít người thấy lạ lẫm, bởi lẽ đây không chỉ là cụm từ được ghép từ những thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khác nhau (“vốn” thuộc lĩnh vực kinh tế, và “xã hội” với ý nghĩa rộng rãi hơn rất nhiều) mà còn bởi bản thân thuật ngữ này được dùng để chỉ một thực thể bao quát đến mức “mơ hồ và khó nắm bắt” [39, tr. Nỗ lực của các nhà khoa học nhằm đi đến một cách hiểu hoàn toàn thống nhất về vốn xã hội dường như còn khá xa vời. Mặc dù vậy, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ các luận điểm lý thuyết về vốn xã hội cũng như những vận dụng hệ thống luận điểm này 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào nghiên cứu nhận thức, cải biến thực tiễn đời sống xã hội đã khẳng định vốn xã hội là một khái niệm khoa học thực thụ. Trên thực tế, khái niệm vốn xã hội ra đời chỉ là sự định danh cho một hiện tượng đã tồn tại từ lâu trong đời sống cộng đồng loài người.
Các biểu hiện của vốn xã hội đã được nhiều học giả kinh điển trên thế giới đề cập từ rất sớm trong các nghiên cứu của mình. Trong tác phẩm “Vốn xã hội” (Social Capital), Halpern đã nhắc đến Alexis de Tocqueville, Emile Durkheim, Adam Smith và những quan điểm của các học giả này về vai trò của cộng đồng, hiệp hội, đoàn kết xã hội đối với đời sống cá nhân cũng như các lĩnh vực xã hội với ý nghĩa như là các dạng của vốn xã hội [80, tr. Thực vậy, Tocqueville đã xây dựng những tiền đề quan trọng cho các kết quả nghiên cứu của Coleman và Putnam khi bàn về các hội đoàn. Theo đó, “để làm cho mọi người là văn minh hay trở thành văn minh, họ cần phải phát triển và hoàn thiện nghệ thuật kết nối lại với nhau tương ứng với nhịp độ phát triển về sự bình đẳng của các điều kiện” [26, tr.
Với Durkheim, nhà xã hội học người Pháp, “sự phân công lao động xã hội không chỉ mang lại những lợi ích vật chất, kinh tế (tăng năng suất, hiệu quả cao hơn của sức lao động) mà quan trọng hơn nó tạo nên mối liên kết xã hội và, qua đó, tạo nên một tinh thần đoàn kết giữa các các nhân” [26, tr.2] Theo nghiên cứu của Putnam, phải đến năm 1916 khái niệm “vốn xã hội” mới lần đầu tiên được đưa ra bởi Hanifan [80, tr. Hanifan sử dụng khái niệm này khi ông đề cập tới tình thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau, cũng như tương tác giữa các cá nhân, hay giữa các gia đình trong đời sống xã hội. Sau gần một nửa thế kỷ bị lãng quên, khái niệm vốn xã hội được nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Mỹ, Jane Jacobs, đề cập lại trong nghiên cứu của mình vào năm 1961 mặc dù bà đã không định nghĩa một cách rõ ràng khái niệm này mà sử dụng nó dưới lớp nghĩa là giá trị của các mạng lưới [65, tr. Đến những năm 1980, khái niệm vốn xã hội được đưa vào từ điển khoa học xã hội [2, tr.
Tuy vậy, xu hướng nghiên cứu mang tính học thuật về khái niệm này được ghi dấu vào cuối những năm 1980 bởi các nhà xã hội học tiêu biểu: Ở Châu Âu là Pierre Bourdieu với tác phẩm “Các dạng của vốn” (The Forms of Capital), xuất bản năm 1986; và gần như cùng thời điểm ở 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Châu Mỹ là James Coleman, vào năm 1988 đã công bố tác phẩm “Vốn xã hội trong sự tạo dựng Vốn con người” (Social Capital in the Creation of Human-Capital) [80, tr. Sau đó, từ những năm 90 trở lại đây, đặc biệt với chương trình nghiên cứu về vốn xã hội của Ngân hàng thế giới, vốn xã hội trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu ở nhiều quốc gia. Có thể nhắc tới các học giả giả tiêu biểu đã nghiên cứu và có những đóng góp cụ thể ở góc độ lý luận cũng như thực nghiệm về vốn xã hội như: Fukuyama [21, 77]; Lin [82, 83]; Portes [38, 90, 91]; Putnam [92- 94]; Burt [70]; Halpern [80]… Khi bàn về vốn xã hội, mỗi học giả ở góc độ nghiên cứu của mình lại đưa ra những quan niệm của riêng. Với Bourdieu, vốn xã hội là tập hợp các nguồn lực thực tế hoặc tiềm ẩn xuất phát từ các mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp, khối lượng vốn của một cá nhân phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế, và vào khối lượng vốn (kinh tế, văn hóa, biểu trưng) của từng cá nhân mà anh ta có liên hệ [80, tr.
Trong khi đó Coleman cho rằng vốn xã hội là nguồn lực tồn tại giữa các cá nhân, với hai thành tố chung: khía cạnh của cấu trúc xã hội, và tạo điều kiện cho các cá nhân hành động [71, tr. Khác với Bourdieu, Coleman cho rằng vốn xã hội bao gồm các đặc trưng trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực, và sự tin cậy trong xã hội, những đặc trưng này giúp các cá nhân có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu chung [39, tr. Chia sẻ chung quan điểm với Coleman, Putnam cho rằng vốn xã hội đề cập tới các khía cạnh đặc trưng của tổ chức đời sống xã hội như các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực, quan hệ qua lại, và sự tin cẩn, vốn xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt kết quả lợi ích tương hỗ [94, tr. Fukuyama cho rằng phần lớn các định nghĩa về vốn xã hội chỉ nói về những biểu hiện của vốn xã hội hơn là về bản thân nó, ông quan niệm vốn xã hội là các chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác giữa các cá nhân, nó tồn tại tiềm tàng giữa những cá nhân với nhau, nhưng hiện thực hóa giữa những người “bạn hữu” [77, tr.
Trong quan niệm của Fukuyama vốn xã hội chính là thành tố văn hóa của các xã hội hiện đại được tổ chức dựa trên cơ sở của các định chế hình thức, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên nhà nước pháp quyền và lý tính [39, tr. Lin cho rằng vốn xã hội là các nguồn lực gắn liền với các mạng lưới xã hội và được sử dụng vào những mục đích nhất định, ông lập luận rằng nguồn lực trong mạng lưới vốn thuộc về từng cá nhân, khi cá nhân đó tham gia vào mạng lưới với tư cách thành viên, anh ta “nhúng” nguồn lực của mình vào nguồn lực chung, cho phép các thành viên khác có thể tận dụng để đạt mục đích của họ [83].