Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc thu hút và quản lý sử dụng nguồn vốn ODA. Chương 2: Thực trạng về công tác thu hút và quản lý sử dụng nguồn vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông ở Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút và quản lý sử dụng vốn ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông Hà Nội. 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC THU HÚT VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA 1.
Tổng quan về nguồn vốn ODA 1. Khái niệm, bản chất và phân loại ODA 1. Khái niệm ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phƣơng, một ngành đƣợc tổ chức quốc tế hay nƣớc ngoài xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế đƣợc đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này đƣợc chi phối bởi công pháp quốc tế.
Năm 1972, lần đầu tiên Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đã đƣa ra khái niệm về ODA nhƣ sau: “ODA là một giao dịch chính thức đƣợc thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nƣớc đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ƣu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%” [9]. Đến năm 1999, theo báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới (WB) xuất bản tháng 6/1999 có đƣa ra định nghĩa về ODA nhƣ sau: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF), trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ƣu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA” [12] (ODF là tất cả các nguồn tài chính mà chính phủ các nƣớc phát triển và các tổ chức đa phƣơng giành cho các nƣớc đang phát triển). Nghị định 87/CP của Chính phủ Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 20/08/1997 đã định nghĩa ODA nhƣ sau: “ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ƣu đãi đối với các nƣớc đang phát triển của các tổ chức nƣớc 5 z ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay” [8].
Theo chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) trong “Báo cáo tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam, tháng 12/2002” có đƣa ra về định nghĩa về ODA nhƣ sau: “Viện trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nƣớc đang phát triển, cụ thể là (i) do khu vực chính thức thực hiện; (ii) chủ yếu nhằm phát triển kinh tế và phúc lợi; (iii) cung cấp với các điều khoản ƣu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là 25%)”. Định nghĩa về ODA hiện hành đang đƣợc Chính phủ Việt Nam sử dụng trong “Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA” ban hành theo Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04/5/2011: Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này đƣợc hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nƣớc hoặc Chính phủ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ, bao gồm: (i) Chính phủ nƣớc ngoài, (ii) các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia. Các hình thức cung cấp ODA bao gồm: (a) ODA không hoàn lại, (b) ODA vay ƣu đãi có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 25%. Bản chất của ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một hiện tƣợng nổi lên sau chiến tranh thế giới lần II.
Ngay từ khi mới ra đời, nó đã nhằm hai mục tiêu cơ bản: Một là, thúc đẩy tăng trƣởng dài hạn và giảm nghèo ở những nƣớc đang phát triển. Động cơ của các nhà tài trợ ở mục tiêu này là kết hợp giữa tinh thần vị tha, nhân đạo với mối quan tâm lâu dài về an ninh, kinh tế và chính trị của nhà tài trợ với nƣớc tiếp nhận. Hai là, tăng cƣờng lợi ích chiến lƣợc chính trị 6 z ngắn hạn của các nƣớc tài trợ. Mục tiêu này thể hiện là nƣớc tài trợ chủ yếu cung cấp ODA cho những nƣớc có cùng mục đích chính trị hay đồng minh của họ.
a, Tính chất hỗ trợ tăng trưởng dài hạn và giảm nghèo của ODA ODA là một nguồn vốn đƣợc cung cấp chủ yếu dƣới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ƣu đãi (ƣu đãi về lãi suất, về thời gian ân hạn và thời gian trả nợ), nên nguồn vốn này thƣờng đƣợc các nƣớc đang phát triển tiếp nhận và sử dụng vào các mục đích phát triển dài hạn và hỗ trợ tăng phúc lợi xã hội. Tính ƣu đãi của nguồn vốn ODA đƣợc thể hiện trên các mặt sau: Nguồn vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) và thời gian ân hạn (chỉ trả lãi, chƣa trả nợ gốc) dài, đây cũng chính là một sự ƣu đãi dành cho nƣớc vay. Ví dụ nhƣ nguồn vốn ODA do ba nhà tài trợ lớn dành cho Việt Nam là Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), và Chính phủ Nhật Bản thƣờng có thời gian hoàn trả là 30 đến 40 năm và thời gian ân hạn từ 8 đến 10 năm. Thông thƣờng, trong nguồn vốn ODA có một phần là viện trợ không hoàn lại (tức là “cho không”) - phần này không dƣới 25% tổng số.
Đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thƣơng mại. Yếu tố “cho không” đƣợc xác định dựa vào việc so sánh lãi suất viện trợ ở mức lãi suất tín dụng thƣơng mại (tiêu chuẩn quy ƣớc là 10%/năm). Tính ƣu đãi của ODA còn đƣợc thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các nƣớc đang và chậm phát triển. Tuy nhiên, để nhận đƣợc nguồn vốn ODA, các nƣớc đang phát triển phải đảm bảo đƣợc hai điều kiện cơ bản sau: - Thứ nhất, mức GDP bình quân đầu ngƣời thấp.
Nƣớc có GDP bình quân đầu ngƣời càng thấp thƣờng nhận đƣợc tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp cũng nhƣ thời hạn ƣu đãi dài 7 z hơn. Cho đến khi các nƣớc này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngƣỡng đói nghèo thì sự ƣu đãi sẽ giảm đi. -Thứ hai, để đƣợc tiếp nhận ODA thì mục tiêu sử dụng vốn của các nƣớc đang phát triển phải phù hợp với phƣơng hƣớng ƣu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp ODA và bên nhận ODA. Trên thế giới hiện có khoảng chừng 150 nƣớc đang phát triển, khoảng 77% dân số thế giới hiện đang sống ở những nƣớc này.
Thế nhƣng, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của những nƣớc đang phát triển này lại chƣa đầy 14% trong tổng số của toàn thế giới. Khoảng cách về kinh tế và xã hội giữa những nƣớc công nghiệp tiên tiến và những nƣớc đang phát triển chẳng những không thu hẹp mà ngày càng mở rộng thêm. Những vấn đề nan giải chính nảy sinh trong những nƣớc đang phát triển không chỉ thuần túy liên quan đến vấn đề kinh tế, mà cả những vấn đề khác nữa nhƣ tỷ lệ tăng dân số cao, đói ăn và suy dinh dƣỡng, tuổi thọ ngắn ngủi và những vấn đề về môi trƣờng. Đặc biệt nghiêm trọng là vấn đề dân số.
Trong hoàn cảnh đó, ở những nƣớc đang phát triển, công tác y tế, vệ sinh, cung cấp nƣớc sạch, giáo dục và một loạt những thứ gọi là những nhu cầu cơ bản của con ngƣời còn thiếu rất nhiều. Hơn nữa, những nƣớc này đang tụt hậu trong các lĩnh vực giao thông vận tải, viễn thông, năng lƣợng, công nghiệp cùng một loạt những khía cạnh khác nhau của hạ tầng cơ sở, mà những nhân tố này lại đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Hiển nhiên, để giải thoát những khó khăn đó, nỗ lực phát triển của bản thân mỗi nƣớc đang phát triển là quyết định. Song các nƣớc phát triển cũng cần phải giúp đỡ cho những nỗ lực đó.
Vì vậy, tính chất ƣu đãi của viện trợ là nhằm thực hiện mục tiêu hỗ trợ thúc đẩy tăng trƣởng dài hạn và giảm nghèo ở những nƣớc đang phát triển. Mặt khác, mặc dù trên phạm vi toàn cầu, 8 z viện trợ chỉ chiếm một phần nhỏ trong số thu nhập của các nƣớc phát triển, nhƣng là một phần rất quan trọng đối với nhiều nƣớc ở tình trạng có thu nhập thấp. Nhóm nƣớc này nhận khoảng một nửa nguồn tài chính bên ngoài của họ dƣới hình thức viện trợ. Đối với một số vùng, tỷ lệ này còn cao hơn nhiều ví nhƣ ở vùng Nam Sahara châu Phi, viện trợ chiếm bình quân 13% thu nhập quốc gia, và đóng vai trò quyết định trong nhập khẩu, hỗ trợ đầu tƣ công cộng và giúp cho việc đầu tƣ trả nợ [13].
Nếu thiếu sự trợ giúp phát triển của quốc tế, nhiều nƣớc sẽ thiếu những nguồn lực cần thiết để tái thiết và cải thiện phúc lợi xã hội. Với những tính chất kể trên, ở các nƣớc đang phát triển, ODA thƣờng đƣợc sử dụng với những mục đích sau: - Thứ nhất, điều chỉnh, hoàn thiện cơ cấu kinh tế. Đây là một nguồn tài chính để bù đắp cho thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế (do nhập siêu), nhờ đó quản lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh tế. - Thứ hai, tăng nguồn vốn trong nƣớc để chính phủ các nƣớc đang phát triển có thể thực hiện các chƣơng trình đầu tƣ quốc gia, đặc biệt là các dự án cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, để làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trƣởng kinh tế; thúc đẩy đầu tƣ của tƣ nhân trong và ngoài nƣớc.
- Thứ ba, góp phần cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân ở các nƣớc đang phát triển nhƣ cho phép thực hiện các chƣơng trình xóa đói, giảm nghèo, cải cách giáo dục, nâng cao chất lƣợng y tế cộng đồng, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, dinh dƣỡng,… - Thứ tư, trợ giúp chính phủ các nƣớc đang phát triển thực hiện các chƣơng trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hoạch định chính sách hay cung cấp 9 z thông tin cho đầu tƣ tƣ nhân bằng các hoạt động điều tra, khảo sát, đánh giá tài nguyên và hiện trạng kinh tế - xã hội ở các ngành, các vùng lãnh thổ.