Đặt vấn đề Chăn nuôi là một trong những ngành chiếm vai trò rất quan trọng trong nông nghiệp và nông thôn, sự tăng trưởng cao liên tục trong thời gian dài của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã góp phần duy trì mức tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp. Trước “cơn bão” hội nhập đang đến, chăn nuôi là một trong những ngành Việt Nam xác định là có sức cạnh tranh kém và dễ bị đánh bại ngay cả trên sân nhà. Mặc dù lĩnh vực chăn nuôi trong các năm gần đây đã có những bước chuyển dịch rõ ràng theo hướng tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tuy nhiên, để đảm bảo sức cạnh tranh của chăn nuôi Việt Nam, chúng ta cần làm tốt công tác chăm sóc và quản lí lợn. Nguyên nhân là do chăn nuôi nước ta đang phụ thuộc quá nhiều vào giống ngoại – giống có khả năng thích nghi thấp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm của nước ta.
Đối với lợn nái nhất là lợn nái được nuôi theo hướng công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do điều kiện vệ sinh chăn nuôi kém, quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng chưa đảm bảo. Mặt khác, theo Trần Thị Dân (2004) [3] trong quá trình sinh đẻ lợn dễ bị mắc các loại vi khuẩn như Streptococcus, Staphylococcus, E. coli,…xâm nhiễm và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm môn, đặc biệt là bệnh viêm tử cung. Bệnh viêm tử cung là bệnh không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ mà nếu không chữa trị kịp thời thì có thể dẫn đến làm giảm lứa đẻ trong năm hoặc mất khả năng sinh sản của lợn nái [5].
Đồng Nai được mệnh danh là “cái nôi” của nền chăn nuôi Việt Nam, theo số liệu sơ bộ của tổng cục thống kê, năm 2015, toàn tỉnh Đồng Nai có 2578 trang trại chăn nuôi lợn với tổng đàn lên tới khoảng 15. Trong đó, huyện Thống Nhất chiếm gần 1/3 số trang trại chăn nuôi với 806 trang trại với tổng đàn khoảng 373. Hầu hết, các hộ chăn nuôi đều nuôi lợn nái sinh sản để lấy lợn con nuôi thương phẩm. Vì vậy nếu làm tốt công tác phòng và trị các bệnh về sinh sản, đặc biệt là bênh viêm tử cung cho nái sinh sản sẽ góp phần đảm bảo số lượng và sức khỏe cho đàn lợn con.
0 Từ những vấn đề trên, được sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hồng Sơn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản và hiệu quả điều trị của một số thuốc tại trại nái Bảo Lộc, xã Gia Tân 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Mục tiêu đề tài - Khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn nái ngoại tại trại. - Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ tại trạị. - Khảo sát tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con sinh ra từ lợn mẹ mắc viêm tử cung.
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung. Ý nghĩa khoa học Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Ý nghĩa thực tế - Xác định được một số thuốc có hiệu lực và độ an toàn cao trong điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái. - Từ kết quả của đề tài đưa ra những giải pháp giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra.
1 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam 2. Sơ lược tình hình chăn nuôi lợn 2. Tổng đàn và số đầu lợn nái Việt Nam là một nước đi lên và phát triển từ nền nông nghiệp có truyền thống lâu đời, trong đó ngành chăn nuôi lợn đã dần khẳng định chỗ đứng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân.
Theo số liệu của tổng cục thống kê trong giai đoạn 2011-2015, chăn nuôi lợn từng bước phát triển ổn định, tăng cả về quy mô đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng. Năm 2011, tổng đàn lợn cả nước là 27,06 triệu con, ước tính năm 2014 giảm xuống còn 27 triệu con và năm 2015 là 27,2 triệu con; Tổng số lợn cả nước có đến tháng 6 năm 2016 đạt khoảng 28,3 triệu con[ 23 ]. Phân bổ đàn lợn theo vùng như sau: Vùng Đồng bằng sông Hồng là 25,74%, vùng Trung du miền núi phía bắc là 24,1%, vùng Đông Nam Bộ là 10,51%, vùng Tây Nguyên là 6,58% [23]. Theo Tổng cục thống kê, năm 2012 cả nước có 4,03 triệu con lợn nái, (chiếm 15,2% tổng đàn), giảm 0,56% so với năm 2011 [23].
Sự phân bố số lượng lợn nái ở các vùng trong cả nước như sau: Vùng ĐBSH có 1,06 triệu con, chiếm 26,28% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có 0,93 triệu con, chiếm 23,2% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 0,84 triệu con, chiếm 20,9% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng Tây Nguyên có 0,22 triệu con, chiếm 5,6% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng ĐNB có 0,41 triệu con, chiếm 10,1% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng ĐBSCL có 0,56 triệu con, chiếm 14% tổng đàn lợn nái trong cả nước [23]. Số lượng đầu lợn (triệu con) từ năm 2008 – 2014 ở các vùng kinh tế khác nhau của cả nước Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Vùng Cả nước 26,70 27,63 27,37 27,06 26,49 26,26 26,76 ĐBSH 6,97 7,10 6,95 7,09 6,86 6,76 6,82 TDVMNBB 6,29 6,67 6,96 6,43 6,35 6,33 6,63 BTBVDHMT 5,55 5,55 5,23 5,25 5,09 5,10 5,21 Tây Nguyên 1,56 1,64 1,63 1,71 1,70 1,72 1,74 ĐNB 2,70 2,96 2,81 2,80 2,78 2,76 2,89 ĐBSCL 3,63 3,73 3,80 3,77 3,72 3,60 3,47 (Nguồn: Tổng cục thống kê [23]) 2.2 Xuất khẩu thịt lợn Theo USDA, năm 2014 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào khoảng 2,245 triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2013. Sản lượng thịt lợn của Việt Nam năm 2014 dự kiến ở mức 2,26 triệu USD, đảm bảo cho Việt Nam xuất khẩu khoảng 15 nghìn tấn thịt lợn. Thách thức đối với ngành chăn nuôi Đánh giá một cách tổng quan, hiện ngành chăn nuôi còn rất nhiều bất cập.
- Đầu vào thức ăn phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu, dẫn tới chi phí sản xuất cao. Trong khi đó, đối với chăn nuôi thì giá thành thức ăn đã chiếm tới 65-70% chi phí. So với các nước trong khu vực, giá thành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam luôn cao hơn khoảng 10%. - Kiểm soát dịch bệnh chưa thực sự hiệu quả.
Mặc dù đa số các bệnh đều đã được kiểm soát nhưng một số loại dịch bệnh như lở mồm long móng, cúm gia cầm vẫn hoành hành, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi. 3 - Vấn đề về con giống cũng là một trong những điểm yếu cố hữu của ngành chăn nuôi Việt Nam. Sự phát triển nâng cao chất lượng con giống tại Việt Nam quá chậm so với thế giới. Trong khi lợn giống tại các nước sinh sản đạt 25-26 con/lứa thì Việt Nam vẫn dậm chân ở mức 17-20 con.
- Về cách thức tổ chức ngành chăn nuôi: Quy mô còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu tính liên kết giữa khâu sản xuất và thị trường tiêu thụ nên hiệu quả kinh tế không cao. Chăn nuôi gia súc, gia cầm chuyển dịch theo hướng tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế. Sơ lược địa điểm nghiên cứu 2. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý - đất đai Vị trí địa lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Nó là yếu tố quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai, lao động và phong tục tập quán của người nông dân. Trang trại Bảo Lộc thuộc xã Gia Tân 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Phía Bắc giáp huyện Định Quán Phía Tây giáp huyện Trảng Bom Phía Đông giáp thị xã Long Khánh Phía Nam giáp huyện Long Thành và Cẩm Mỹ Địa hình Xã Gia Tân 2 có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm.[25] Khí hậu Xã Gia Tân 2 có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa.
4 Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,5 oC, số giờ nắng trong năm 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%. Sơ lược về trại nái Bảo Lộc Giới thiệu về trại nái Bảo Lộc Trang trại nái Bảo Lộc là trang trại thuộc quyền sở hữu tư nhân, được thành lập năm 2010 do ông Nguyễn Văn Tâm xây dựng và phát triển cho đến nay.
Quy mô trại nái Bảo Lộc Trại nái Bảo Lộc nuôi 200 nái gồm: nái hậu bị, nái sinh sản, đực, lợn con. - Nái sinh sản hàng tháng trung bình 30 nái. - Đực thường xuyên trong trại 3 đực. - Nhập hậu bị trung bình tháng thì tùy vào heo nái loại thải trong trại.
- Lợn con cai sữa hàng tháng trung bình 300 con. Trang trại chủ yếu nuôi lợn nái: L x Y, Y x L và lợn đực: Duroc, ngoài ra còn có nuôi gà, nuôi vịt lấy trứng và nuôi cá rô phi. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh do ông Nguyễn Văn Tâm đầu tư lên đến 5 tỷ VN đồng. Chuồng trại Trang trại được chia thành 2 khu gồm khu chăn nuôi, khu nhà ở.
Khu chăn nuôi gồm: 1 kho cám, 1 chuồng bầu, 1 nhà xuất heo loại, 1 nhà nhập heo hậu bị, nhà xuất heo cai sữa, 2 chuồng cách ly (1, 2), 1 chuồng đẻ. Khu nhà ở gồm: 3 phòng ở, 1 phòng ăn, 1 phòng bếp.