mở đầu một quá trình lao động gắn kết giữa người lao động với người sử dụng lao động. Khi bàn về khái niệm hợp đồng lao động, TS. Nguyễn Hữu Chí cho rằng trong định nghĩa về hợp đồng lao động nên bỏ cụm từ "điều kiện lao động" vì xét cho cùng cũng là quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động [9, tr. Theo chúng tôi, về mặt lý luận quan điểm này thực sự có cơ sở và hợp lý.
Đặc trưng của hợp đồng lao động Từ khái niệm của hợp đồng lao động có thể rút ra những đặc trưng của hợp đồng lao động như sau: - Có sự phụ thuộc pháp lý của người lao động và người sử dụng lao động Đây được xem là điểm đặc trưng nhất của hợp đồng lao động so với các loại hợp đồng khác. Khi đưa ra nhận xét của mình về vấn đề này, GS.TS Luật khoa Nguyễn Quang Quýnh đã viết "yếu tố chính trong khế ước lao động là sự phụ thuộc pháp lý của người công nhân đối với chủ nhân. Đặc điểm đặc sắc trong khế ước lao động là người công nhân không phải chỉ cam kết làm một công việc gì hay cung cấp một dịch vụ nhất định mà còn tự đặt mình dưới quyền điều khiển của chủ nhân khi làm công việc ấy" [36, tr. Như vậy, ở đây đã ngầm chứa sự lệ thuộc của người lao động vào người sử dụng lao động khi tồn tại một quan hệ lao động giữa hai bên.
Sự "tự đặt mình dưới quyền điều khiển của chủ nhân" có thể xem như việc người lao động phải tuân theo sự tổ chức và quản lý lao động của người sử dụng lao động. Trên thực tế, điều này là hiển nhiên vì người sử dụng lao 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động là người chi phối toàn bộ hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh và phải gắn kết được những người lao động riêng lẻ thành một tập thể sản xuất. Chính vì thế, họ có quyền được điều chỉnh, phân công và bố trí công việc cho người lao động. Tuy nhiên, pháp luật lao động cũng lưu tâm đến việc không để quyền của người sử dụng lao động vượt quá giới hạn mà quy định những điều kiện ràng buộc nhất định trong quá trình họ quản lý và sử dụng lao động.
- Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công. Để giao kết một hợp đồng nhất định thì phải xác định được đối tượng của hợp đồng. Đối với hợp đồng lao động thì đối tượng là việc làm có trả công. Việc làm theo quy định của pháp luật lao động có thể được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là sự thực hiện một công việc hay một dịch vụ cụ thể nào đó.
Tuy nhiên, để thực hiện được công việc này thì người lao động phải trải qua một quá trình lao động. Sức lao động của họ đã được kết tinh trong các sản phẩm và do đó nó hoàn toàn khác với các loại hàng hóa thông thường. Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì thế người sử dụng lao động cũng mua một loại hàng hóa đặc biệt đó là một quá trình lao động. Thông thường trong quan hệ mua bán hàng hóa, người mua chỉ quan tâm đến hàng hóa là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất còn trong quan hệ lao động thì "người mua hàng" phải quan tâm tới một quá trình lao động.
- Hợp đồng lao động có tính đích danh. Khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung quy định "công việc theo hợp đồng lao động phải do người giao kết thực hiện, không được giao cho người khác nếu không có sự đồng ý của người sử dụng lao động". Người lao động là người trực tiếp giao kết hợp đồng lao động trên cơ sở bày tỏ ý chí của mình về việc làm có trả công, về các quyền và nghĩa vụ lao động. Vì vậy, trước khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động đã cân nhắc các yếu tố liên quan như tính phù hợp của công việc, khả năng hoàn thành theo yêu cầu của người sử dụng lao động, mức trả công tương xứng,.
Có thể thấy 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc lựa chọn công việc phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của người lao động. Do đó, khi thực hiện công việc trong thực tế, người lao động đã giao kết hợp đồng lao động sẽ có nhiều khả năng và chủ động thực hiện công việc nhiều nhất. Chính vì thế, công việc theo hợp đồng phải do người giao kết hợp đồng thực hiện. Hơn nữa, như đã phân tích, hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó gắn liền với người lao động và chỉ thông qua hoạt động lao động của người lao động thì hàng hóa đó mới được phát huy giá trị sử dụng và kết tinh trong sản phẩm.
Hơn nữa, quá trình lao động không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố chuyên môn, kỹ thuật mà còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như: đạo đức, thái độ làm việc, phẩm chất,. của người lao động. Đây là các yếu tố gắn liền với nhân thân người lao động và vì thế người lao động phải đích danh thực hiện những công việc đã giao kết. Ngoài ra, một số chế độ như chế độ nghỉ ngơi, chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ khen thưởng, kỷ luật,.
chỉ phát sinh khi người lao động trực tiếp thực hiện công việc. Mặt khác, mỗi người trong lao động có thể mang lại những hiệu quả công việc khác nhau ngay cả trong cùng một điều kiện lao động. Bởi vậy, mỗi người lao động hoàn thành công việc theo những mức độ khác nhau với chất lượng sản phẩm không giống nhau. Đó chính là những lý do để người lao động đã giao kết hợp đồng lao động phải trực tiếp thực hiện.
Tuy nhiên, nếu có sự đồng ý của người sử lao động thì người lao động cũng có thể giao công việc đã thỏa thuận cho người khác thực hiện. Trong trường hợp này, vấn đề pháp lý đặt ra là cần xác định rõ mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ lao động giữa người lao động đã giao kết hợp đồng lao động và người được chuyển giao. - Hợp đồng lao động phải được thực hiện liên tục trong một khoảng thời gian nhất định hay vô hạn định. Hợp đồng lao động được các bên thực hiện liên tục từ khi hợp đồng lao động có hiệu lực cho đến khi hợp đồng lao động chấm dứt.
Tính liên tục được thể hiện qua việc người lao động và người sử dụng lao động thực hiện 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công việc đã giao kết một cách ổn định, theo đúng thời giờ làm việc mà các bên đã định ra. Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng lao động mà tính liên tục được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định hoặc không xác định thời hạn kết thúc. Điều này đồng nghĩa với việc các bên không được tự ý làm việc theo thời gian của mình mà phải tuân theo hợp đồng lao động đã giao kết. Sự thực hiện liên tục hợp đồng lao động không chỉ thể hiện quá trình lao động của người lao động mà còn thể hiện sự quản lý của người sử dụng lao động đối với người lao động và việc tuân thủ nội quy lao động.
VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CỦA NÓ 1. Khái niệm vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động 1. Định nghĩa vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động Nền kinh tế thị trường ra đời cùng với sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội trong đó quan hệ lao động được xem là có tính chất đa dạng và phức tạp, gắn liền với một loại hàng hoá đặc biệt đó chính là sức lao động. Thị trường sức lao động là "không gian mà người mua sức lao động và người bán sức lao động được tự do thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động" [26, tr.
Sự vận hành của quy luật cung cầu trong thị trường sức lao động đã dẫn các bên có nhu cầu mua và bán hàng hóa sức lao động tìm tới nhau. Kết quả của sự gặp gỡ ý chí giữa các bên thông thường được thể hiện qua "hình thức mà nhân loại đã sử dụng hàng mấy trăm năm nay: hợp đồng lao động" [44, tr. 19] và đây cũng là căn cứ pháp lý chủ yếu làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động. Trong suốt quá trình thực hiện những cam kết hoàn toàn tự nguyện của các bên, hợp đồng lao động tồn tại như một ràng buộc pháp lý cần thiết.
Dự liệu được tầm quan trọng của chế định "xương sống của luật lao động", pháp luật lao động cũng đã có những quy định khá cụ thể và chặt chẽ về hợp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng lao động. Tuy nhiên, trong thực tiễn đã xảy ra không ít những hành vi vi phạm các quy định về hợp đồng lao động. Để ngăn chặn và hạn chế những vi phạm hợp đồng lao động đã và đang diễn ra, điều cốt yếu là phải xác định và làm rõ khái niệm vi phạm pháp luật hợp đồng lao động từ đó đưa ra nguyên nhân và biện pháp hạn chế những hành vi vi phạm này. Hiện nay, trong khoa học pháp lý tồn tại một số định nghĩa về vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật lao động.
Trong cuốn "Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật" của Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật có nêu "các hành vi vi phạm pháp luật, như tên gọi của chúng, là vi phạm, làm trái với quy định được xác định trong quy phạm pháp luật" [50, tr. 288] và coi hành vi vi phạm pháp luật và hành vi hợp pháp như "hai mặt của một tấm mề đay", tức là hai mặt của khái niệm hành vi pháp luật. Hay "hành vi vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích được bảo vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong ngành luật ấy, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi" [18, tr. Trong Giáo trình Luật lao động của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội có định nghĩa "vi phạm pháp luật lao động được hiểu là những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện trái các quy định của pháp luật lao động, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động, của nhà nước và xã hội" [17, tr.