Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng VHKD của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam. Chương 3: Một số gợi ý giải pháp cải thiện VHKD của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khái niệm cơ bản 1. Văn hoá kinh doanh Văn hóa hiện diện và thẩm thấu vào mọi khía cạnh của đời sống con người như một yếu tố không thể thiếu được của tổng thể xã hội. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là con người nhận thức được một cách rõ ràng kiến trúc của văn hóa trong mỗi hoạt động hoặc có thể định liệu được những liên hệ mật thiết có tính chất văn hóa trước khi đi đến những quyết định.
Người ta ngày càng nhận ra rằng văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người. Và đã đi sâu tìm hiểu những sắc thái văn hóa của các hoạt động của con người như: văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa gia đình. Kinh doanh là một hoạt động đặc thù của con người, do vậy nó cũng là một phạm trù của văn hóa. Có khá nhiều quan niệm, định nghĩa về VHKD.
Trước khi đi đến một định nghĩa mang tính khái quát cao, chúng ta khảo sát một số định nghĩa điển hình: - Theo các nhà nghiên cứu của Viện Kinh doanh Nhật Bản - Hòa Kỳ (JABA), "VHKD có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình văn hóa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội đó" [5, tr. - Theo Vern Terspstra và Kenneth David (Trường Đại học Michigan - Hoa Kỳ), "VHKD bao gồm những nguyên tắc điều chỉnh việc kinh doanh, việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 ấn định ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và các ứng xử vô đạo đức, những quy tắc phải tuân theo trong các thỏa thuận kinh doanh" [5, tr. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số định nghĩa về VHKD như sau: - GS.TS Nguyễn Duy Quý: "Trong hoạt động kinh doanh có một nền VHKD thể hiện sự vận động khoa học và kỹ thuật, tổ chức và quản lý kinh doanh, ở những cách thức giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh thương mại" [22, tr. - GS Hoàng Trinh: "VHKD (hay kinh doanh có văn hóa) có nghĩa là hoạt động kinh tế có hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lượng cao, tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường trong nước và ngoài nước, làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước" [2, tr.
- GS Phạm Xuân Nam: "VHKD là phương pháp kinh doanh bằng nắm bắt thông tin, ra sức cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, quan tâm thích đáng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ trong việc tạo ra những hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt, hình thức đẹp, giá cả hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, giữ được chữ tín với người tiêu dùng" [22, tr. Với cách tiếp nhận như trên dẫn đến cách hiểu VHKD là sự vận dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động sản xuất - kinh doanh. Cụ thể đó là các nhân tố về khoa học kỹ thuật, công nghệ, phương thức tổ chức và quản lý, giao tiếp và ứng xử. Và nhấn mạnh biểu hiện của VHKD như là tính hiệu quả, chất lượng sản phẩm, chữ tín, đạo đức.
Một định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu chú ý là của TS. Đỗ Minh Cương: "VHKD là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trong quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ" [8, tr. Định nghĩa trên tiếp cận VHKD từ hai phương diện là những nhân tố văn hóa được lựa chọn từ văn hóa dân tộc đưa vào hoạt động kinh doanh và những nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế không có sự tách bạch như vậy mà hai loại nhân tố hòa quyện, thẩm thấu vào nhau để tạo thành các yếu tố cấu thành VHKD.
Qua các phân tích ở trên, có thể đưa ra một khái niệm chung về VHKD, đó là: "VHKD là toàn bộ các nhân tố văn hóa đƣợc chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh từ đó tạo nên bản sắc kinh doanh riêng có của chủ thể". Chọn lọc các nhân tố văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội (đó là phong tục, tập quán, thói quen, giá trị, thẩm mỹ, ngôn ngữ, tôn giáo.) để đưa vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh; Và trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ thể tạo ra nhân tố văn hóa đặc thù của mình (phong cách, phong thái kinh doanh, hệ giá trị, hình thức mẫu mã sản phẩm, kiến trúc nội thất. của DN, hay của một dân tộc, quốc gia); Sử dụng các nhân tố văn hóa đã được chọn lọc và tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của chủ thể. Văn hoá doanh nghiệp Văn hóa DN là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một DN, trở thành các giá trị, tiêu chuẩn, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của DN ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của DN trong việc theo đuổi và thực hiện mục đích chung.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Các giá trị văn hóa đó của DN thường được thể hiện qua những biểu trưng (symbol) chung thuộc về hình thức (logo, đồng phục…) cùng các yếu tố tạo nên thương hiệu; qua năng lực, phẩm chất, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra chất lượng sản phẩm và những thành tích, truyền thống; qua phong cách giao tiếp, ứng xử thống nhất của toàn đơn vị (đối với nội bộ, đối với khách hàng) trong quá trình sản xuất kinh doanh v. Với quan điểm như vậy, có thể nói văn hóa DN biểu hiện VHKD của DN, còn VHKD biểu đạt lối kinh doanh của nhiều chủ thể kinh doanh như: VHKD của một cộng đồng, một dân tộc, một khu vực hay một cá nhân, tổ chức kinh doanh nào đó. Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về văn hóa DN được đưa ra: Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia người Pháp đã đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa DN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của DN” [6, tr.259] Theo định nghĩa của tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization – ILO): “Văn hóa DN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [6, tr. Một định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hóa DN là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”.TS Dương Thị Liễu: “Văn hóa DN là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của DN có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên DN”.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Qua các định nghĩa trên cho thấy, phần lớn các ý kiến mới chỉ dừng lại ở những giá trị cần phải có bên trong DN mà chưa đề cập đến những yếu tố có thể nằm vượt ra bên ngoài DN mà có tác động đến việc tạo nên bản sắc riêng của DN, đó chính là môi trường văn hoá và những yếu tố văn hoá hợp thành trong quá trình sản xuất kinh doanh. Với quan niệm như vậy, văn hóa DN sẽ bao gồm: - Môi trường văn hoá của DN; - Hệ thống các giá trị của DN; - Các nhân tố văn hoá trong sản xuất, kinh doanh của DN. Và chính văn hóa DN tạo nên sự đặc thù, khác biệt cho DN, là cái phân biệt giữa DN này với DN khác; là một “tiểu văn hoá” và là cái bộ phận nếu so sánh với nền văn hoá của một dân tộc hay một quốc gia. Một định nghĩa thể hiện được các quan điểm nêu trên là của TS.
Đỗ Minh Cương: “Văn hóa DN là một dạng của văn hoá tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hoá mà DN kế thừa và sáng tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của DN và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó”. Để phục vụ cho việc nhận diện văn hóa của một DN, người ta đưa ra các mô hình về văn hóa DN hiện nay. Các mô hình văn hóa DN: Có thể khi thành lập DN, nhà sáng lập thường "vay mượn" ý tưởng các mô hình mẫu hay mô hình lý tưởng phù hợp. Với môi trường kinh doanh đa văn hoá ngày nay, các nhà kinh tế đã khái quát hoá nên bốn mô hình văn hóa DN và chỉ ra những nền văn hoá bản địa khác nhau có ảnh hưởng như thế nào đến từng mô hình là: i) Mô hình văn hoá gia đình; ii) Mô hình văn hoá tháp Eiffel; iii) Mô hình văn hoá tên lửa dẫn đường; iv) Mô hình văn hoá lò ấp trứng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mô hình văn hoá gia đình: Nghĩa ẩn dụ "gia đình" trong khái niệm văn hoá để chỉ tính nhân văn, đó là mối quan hệ trực tiếp, gần gũi nhưng có tính thứ bậc trên dưới, như một gia đình, "người cha" là người có kinh nghiệm, quyền lực đối với "con cái". Kết quả là sự hình thành văn hoá hướng "quyền lực". Tuy nhiên đây là thứ "quyền lực" hết sức thân thiện, không có tính đe doạ, quân phiệt.