CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Trước khi đi vào nghiên cứu sự biến đổi trong văn hóa vật chất và tinh thần của người Jrai theo Công giáo, chúng tôi xác định nền tảng lý thuyết qua cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Trong đó, cơ sở lý thuyết bao gồm: tộc người và văn hóa tộc người, văn hóa tôn giáo tín ngưỡng, lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa. Về cơ sở thực tiễn bao gồm: định vị văn hóa người Jrai, tổng quan về người Công giáo Việt Nam và tổng quan về Giáo xứ Plei Kly.1 Tộc người và văn hóa tộc người “Tộc người” là gì và thế nào là “tộc người”? Thuật ngữ liên quan đến khái niệm “tộc người” của các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới đều bắt nguồn từ chữ “Ethnos” trong tiếng Hy Lạp cổ. “Ethnos” bao hàm nhiều nghĩa khác nhau như “bầy”, “đám đông”, “một nhóm người”, “bộ lạc”, “bộ lạc ngoại bang”, “dân tộc”.
Phân tích từ nguyên của từ này, người ta thấy nó dùng để chỉ một tổng thể người sống giống nhau, có những đặc điểm chung giống nhau như phong tục tập quán, thói quen hàng ngày. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, “Ethos” chưa bao hàm ý nghĩa về sự phân biệt giữa các bộ lạc. Những thế kỷ tiếp theo, giáp Công Nguyên và sau Công Nguyên, người ta mới bắt đầu sử dụng thuật ngữ này để chỉ đến các bộ lạc ngoài Hy Lạp. Chỉ đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trở đi, khái niệm “Ethnos” với ý nghĩa là tộc người mới thực sự được xác lập trong giới nghiên cứu khoa học.
Tại Việt Nam, trong một thời gian dài thuật ngữ “tộc người” không được sử dụng phổ biến, và chúng ta sử dụng thuật ngữ “dân tộc”, trong nhiều trường hợp nội hàm không được xác định rõ ràng. Trên thế giới, khái niệm “tộc người” cũng có một số khác biệt giữa hai truyền thống nghiên cứu khác nhau, truyền thống của các nhà nghiên cứu dân tộc học Âu - Mỹ và truyền thống của các nhà nghiên cứu dân tộc học Xô Viết. Đối với các nhà nghiên cứu dân tộc học Xô Viết, đa số đều đánh giá rất cao định nghĩa của Iu. Bromlei: 15 Tộc người được hiểu là một tập đoàn người ổn định có mối liên hệ chung về địa bàn cư trú, ngôn ngữ, kinh tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa.
Mỗi tộc người đều có ý thức về nguồn gốc tộc người của mình. (Ngô Văn Lệ, 2004, tr.21) Định nghĩa của Bromlei không chỉ ảnh hưởng lớn đến các nhà nghiên cứu dân tộc học Xô Viết, mà còn nhiều người trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Như chúng tôi thấy, định nghĩa của Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp (1998) về “tộc người” cơ bản tán thành định nghĩa của Bromlei, như sau: Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình.20) Sự khác biệt và phức tạp của vấn đề “tộc người” thực chất lại nằm trong các tiêu chí để xác định thế nào là tộc người. Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những tiêu chí khác nhau để xác định tộc người.
Weber cho rằng, các tộc người được phân định bởi các đặc điểm về nguồn gốc, các loại hình nhân chủng và các yếu tố phong tục tập quán của họ. Breton thì đưa ra 10 đặc trưng để xác định tộc người như ngôn ngữ, chủng tộc, dân số, lãnh thổ, kinh tế, giai cấp, văn hóa, mạng lưới đô thị, thủ đô và thể chế chính trị. Riêng các nhà nghiên cứu nhân học Xô Viết thường chọn 4 tiêu chí sau đây: yếu tố lãnh thổ, ngôn ngữ, có chung các đặc điểm văn hóa, ý thức dân tộc trong sự tự giác dân tộc. Các quan điểm về tiêu chí xác định thế nào là “tộc người” có những điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu, các trường phái nghiên cứu.
Ở Việt Nam, từ thập niên 1970 đã thống nhất ba tiêu chí xác định tộc người đó là, có tiếng nói chung (ngôn ngữ), có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc (tộc người). Dựa trên ba tiêu chí căn bản trên đây, các nhà nghiên cứu dân tộc học như Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp (1998) đưa ra năm tiêu chí và các tác giả Lê Sỹ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng cùng chủ chương như 16 vậy. Các tiêu chí ấy như sau: 1. Lãnh thổ tộc người; 3.
Cơ sở kinh tế tộc người; 4. Những đặc điểm sinh hoạt tộc người và 5. Ý thức tộc người. Cho đến nay, các tiêu chí để xác định thế nào là “tộc người” vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao của các nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên, về cơ bản có thể xác định ba tiêu chí là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tộc người. Những tiêu chí khác không vì thế mà mất đi, bởi vì tộc người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhân văn khác nhau như dân tộc học, văn hóa học và nhân học. Các tiêu chí khác có thể làm cho phong phú và đi sâu hơn vào việc nghiên cứu các tộc người. Trong giới hạn của luận văn, việc định hướng này là cần thiết để đề tài của luận văn được tập trung, đồng thời mong đóng góp được các giá trị thực sự.
Văn hóa tộc người Nhà nghiên cứu Nguyễn Từ Chi (1996) không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, nhưng cũng đưa ra một cách hiểu cơ bản về văn hóa tộc người. Ông cho rằng: Dưới góc nhìn “dân tộc học”, đa số các nhà nghiên cứu “dân tộc học” đều tìm về một mục đích chung là tìm hiểu văn hóa của từng xã hội, từng cộng đồng, dù cộng đồng ở đây có thể chỉ là một làng, hay một tập hợp gồm nhiều làng, thường là một dân tộc, có khi là cả một nước, thậm chí một khu vực lớn hơn gồm nhiều người gần gũi nhau về nhiều mặt. Văn hóa như vậy, không tự hạn chế vào một số biểu hiện của cuộc sống tinh thần, nó là toàn bộ cuộc sống, cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng.552-553) Cũng trong hướng nghiên cứu dân tộc học, Ngô Văn Lệ (2004) có quan niệm tương tự như Nguyễn Từ Chi, tuy nhiên định nghĩa ông đưa ra rõ ràng hơn: Văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác. Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tự giác tộc người.318) Ông cũng giải thích thêm, văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù của tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người.
Điều đó có nghĩa là các yếu tố văn hóa làm cho tộc 17 người này khác với tộc người kia. Bản sắc văn hóa của một tộc người là tổng thể những tính chất, tính cách được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần trước những thử thách lớn lao của tộc người, tạo nên sự thống nhất văn hóa của một tộc người. Trong quá trình lịch sử, mỗi tộc người hình thành nên bản sắc văn hóa của mình. Nhà nghiên cứu Chu Thái Sơn (1995) trong bài “Văn hóa khu vực, văn hóa tộc người”, có nói về nền tảng văn hóa tộc người như sau: Nền tảng văn hóa tộc người là những phương thức cố kết của tộc người (hình thức cư trú, tổ chức làng xã, các luật tục…) và những biện pháp thích ứng với các điều kiện tự nhiên nơi sinh sống (công cụ sản xuất và hoạt động sản xuất, phần nào trong trang phục tín ngưỡng…).22) Ông cũng lưu ý về khái niệm tộc người trong khi nghiên cứu về văn hóa tộc người, khía cạnh mà theo ông là quan trọng, không phải là vấn đề hiển nhiên.
Khía cạnh đó là: tộc người có địa chỉ cụ thể, tộc người gắn với một địa bàn phân bố dân cư nhất định trong trường lịch sử hay trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Trong quan niệm về văn hóa tộc người, dưới khía cạnh dân tộc học, Chu Thái Sơn nêu bốn lĩnh vực để tiếp cận nghiên cứu văn hóa tộc người, đó là: hoạt động sản xuất, văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần. Trong “các dạng thức văn hóa, mỗi yếu tố văn hóa, xét cho cùng đều mang tính tộc người rõ rệt. Nói cách khác: tín hiệu tộc người là một thuộc tính của các hiện tượng văn hóa.
Bên cạnh các thuộc tính này, các hiện tượng văn hóa còn tiềm ẩn tính không gian và thời gian rõ nét”. (Chu Thái Sơn, 1995, tr.22) Ngô Đức Thịnh (1996), trong bài viết “Các sắc thái văn hóa tộc người” đã quan niệm về văn hóa tộc người như sau: Văn hóa tộc người là một trong những khái niệm cơ bản của khoa dân tộc học, nó là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi… khiến người ta phân biệt tộc người này và tộc người khác, văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc người.106) 18 Như vậy, các nhà nghiên cứu thống nhất ở hai tiêu chí chung về văn hóa tộc người là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa tộc người có các sắc thái khác nhau, nhưng đều mang hai phương thức cố kết, thích ứng của tộc người đó với môi trường tự nhiên và xã hội. Tuy các nhà nghiên cứu chưa có sự thống nhất, nhưng các tiêu chí trên đây đủ để bao hàm cách rộng nhất về văn hóa tộc người, đồng thời giúp luận văn có cơ sở cụ thể để nghiên cứu.
Những khía cạnh cụ thể, chuyên sâu hơn về văn hóa tộc người, không phải là lý thuyết, nhưng mong là những đóng góp cụ thể của luận văn này.